Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong cơ cấu sản xuất nông - lâm nghiệp tại các tỉnh miền núi phía Bắc, lâm sản ngoài gỗ (NTFPs) giữ vị trí then chốt đối với sinh kế của cộng đồng dân cư địa phương. Cây Vầu đắng (Indosasa amabilis McClure, cùng các định danh khoa học liên quan trong phân loại như Indosasa sinica C. Chao, Indosasa angustata McClure) là loài tre mọc tản thân lớn bản địa có giá trị đa dụng. Loài này vừa cung cấp măng làm thực phẩm có giá trị thương phẩm cao, vừa cung cấp thân khí sinh làm vật liệu xây dựng, nguyên liệu cho công nghiệp giấy, sản xuất tăm, đũa xuất khẩu và phục vụ che phủ, bảo vệ môi trường sinh thái đầu nguồn.

Huyện Bạch Thông là huyện miền núi nằm ở trung tâm tỉnh Bắc Kạn, có tổng diện tích tự nhiên 545,62 km² với hơn 90% diện tích là đồi núi có địa hình phức tạp thuộc cánh cung Ngân Sơn. Rừng Vầu đắng của huyện có diện tích khoảng 560,9 ha, phân bố tập trung chủ yếu tại hai xã Đôn Phong và Cẩm Giàng. Mặc dù rừng Vầu đắng đóng vai trò tạo việc làm và đem lại nguồn thu nhập trực tiếp cho người dân (đặc biệt là nhóm hộ nghèo và trung bình), thực trạng quản lý, khai thác lâm phần hiện nay vẫn mang tính tự phát, kỹ thuật tỉa thưa và thu hái măng chưa hợp lý, dẫn đến nguy cơ suy thoái tài nguyên và suy giảm năng suất.

Khóa luận xác định mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

  1. Đánh giá thực trạng phân bố, đặc điểm sinh trưởng phát triển và giá trị kinh tế của cây Vầu đắng tại huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.
  2. Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh, chính sách và tổ chức nhằm phát triển bền vững và nâng cao giá trị kinh tế của cây Vầu đắng trên địa bàn nghiên cứu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn rõ ràng:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các trạng thái rừng Vầu đắng thuần loài, rừng hỗn giao có Vầu đắng và các hộ gia đình trực tiếp quản lý, khai thác rừng Vầu đắng tại hai xã Đôn Phong và Cẩm Giàng, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ diện tích rừng Vầu đắng phân bố tại địa bàn xã Đôn Phong và xã Cẩm Giàng.
  • Phạm vi nội dung và thời gian: Đánh giá biến động diện tích, chỉ tiêu sinh trưởng lâm phần (đường kính $D_{1.3}$, chiều cao vút ngọn $H_{vn}$, mật độ), sản lượng khai thác thân khí sinh và măng, chuỗi thị trường tiêu thụ và giá trị kinh tế thu được trong chu kỳ sản xuất tính đến năm 2015–2016.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng trên nền tảng cơ sở phân loại thực vật học, sinh thái học rừng tre trúc và kinh tế tài nguyên rừng:

  • Cơ sở phân loại và sinh thái: Cây Vầu đắng thuộc lớp Một lá mầm (Monocotyledoneae), họ Hòa thảo (Poaceae / Gramineae), phân họ Tre (Bambusoideae), chi Vầu (Indosasa). Khóa luận kế thừa các công trình phân loại và sinh thái tre trúc điển hình của Munro (1868), Gamble (1986), Dransfield (1995), Vũ Văn Dũng (1980), Phạm Hoàng Hộ (1999), Nguyễn Hoàng Nghĩa (2004, 2005), cùng các nghiên cứu chuyên sâu về sinh thái, kỹ thuật gây trồng và khai thác Vầu đắng của Ngô Quang Đê (1994, 2003) và Trần Xuân Thiệp (1994). Về sinh thái học, Vầu đắng là loài tre mọc tản qua hệ thống thân ngầm sâu 20–30 cm dưới đất, có tính chịu bóng, ưa ẩm (độ ẩm 85–95%, lượng mưa 1.600–1.700 mm/năm trở lên), thích hợp trên đất phát triển từ đá mẹ phiến thạch sét, phiến mica có tầng dày 50–80 cm.
  • Phương pháp kế thừa tài liệu: Thu thập số liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, hiện trạng sử dụng đất đai, bản đồ phân bố rừng và báo cáo thống kê lâm nghiệp từ Ủy ban nhân dân và cán bộ chuyên trách xã Cẩm Giàng, Đôn Phong, Phòng Nông nghiệp & PTNT và Hạt Kiểm lâm huyện Bạch Thông.
  • Phương pháp điều tra xã hội học (PRA): Sử dụng công cụ Đánh giá nông thôn có sự tham gia với 30 phiếu điều tra phỏng vấn trực tiếp các chủ hộ quản lý rừng Vầu đắng tại hai xã, kết hợp phỏng vấn sâu 3 cán bộ quản lý lâm nghiệp cấp huyện để đánh giá tập quán canh tác, khối lượng khai thác, kênh phân phối và giá bán sản phẩm.
  • Phương pháp điều tra thực địa lâm sinh: Thiết lập 18 ô tiêu chuẩn (OTC) tạm thời có diện tích 1.000 m² (0,1 ha)/OTC, chia đều cho hai xã (mỗi xã 9 OTC). Tại mỗi xã, các OTC được bố trí đại diện trên 3 cấp mật độ lâm phần: cấp < 3.000 cây/ha (3 OTC), cấp 3.000 – 5.000 cây/ha (3 OTC) và cấp > 5.000 cây/ha (3 OTC). Tiến hành đo đếm toàn bộ cây trong OTC gồm: đường kính tại vị trí 1,3 m ($D_{1.3}$) bằng thước dây quy đổi, chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) bằng thước sào chuyên dụng, phân chia cấp tuổi (từ cấp tuổi 1 đến cấp tuổi già), điều tra mật độ cây tái sinh gỗ và độ che phủ thảm tươi.
  • Phương pháp tính toán và xử lý số liệu:
    • Tính toán các đại lượng thống kê sinh học cơ bản: giá trị trung bình mẫu ($\bar{x}$), độ lệch chuẩn ($S$), hệ số biến động ($S%$), mật độ khóm ($N_k$), mật độ cây ($N_c$). Sử dụng tiêu chuẩn kiểm định Levene để đánh giá sự đồng nhất phương sai giữa các mẫu quan sát và phương pháp hệ số đường ảnh hưởng (HSĐAH) để xác định tương quan giữa nhân tố lập địa với sinh trưởng.
    • Tính toán chỉ tiêu kinh tế: Quy đổi tổng sản lượng thân khí sinh và măng thu hoạch về đơn vị 1 ha/năm theo các nhóm mục đích (tiêu dùng gia đình $S_{gđ}$, bán lẻ tại chợ địa phương $S_{chợ}$, bán buôn cho thương lái $S_{TL}$) theo công thức $S = \sum (Q_i \times P_i)$. Số liệu được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel và SPSS.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ tiềm năng tự nhiên của huyện Bạch Thông với hơn 560 ha rừng Vầu đắng nhưng chưa được khai thác tương xứng với giá trị. Đặt ra mục tiêu đánh giá toàn diện từ cấu trúc sinh thái, sinh trưởng đến chuỗi thị trường tiêu thụ nhằm tìm kiếm giải pháp nâng cao sinh kế nông thôn. Nêu rõ ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung dữ liệu sinh thái tiểu sinh cảnh của chi Indosasa và ý nghĩa thực tiễn đối với kỹ thuật điều chế, kinh doanh rừng bền vững.

Phần 2: Tổng quan nghiên cứu

Tổng hợp các công trình nghiên cứu về tre trúc trên phạm vi quốc tế (Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan) và trong nước. Khái quát các phát hiện phân loại học của Nguyễn Hoàng Nghĩa với 216 loài tre trúc tại Việt Nam, phân tích các chỉ tiêu lập địa, đất đai từ nghiên cứu của Ngô Quang Đê và Trần Xuân Thiệp. Đồng thời, chương này mô tả chi tiết điều kiện địa lý tự nhiên huyện Bạch Thông (diện tích 545,62 km², địa hình đồi núi dốc, sông suối lắm thác ghềnh phân bố dòng chảy không đều) cùng thực trạng phát triển kinh tế - xã hội, hạ tầng giao thông dọc Quốc lộ 3 và các dự án lâm nghiệp như Dự án 147.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác định cụ thể địa bàn tại hai xã Cẩm Giàng và Đôn Phong. Thiết kế hệ thống phương pháp luận kết hợp giữa nghiên cứu định lượng lâm sinh (18 OTC dung lượng 1.000 m²) và định tính/định lượng kinh tế xã hội học (30 phiếu phỏng vấn PRA). Trình bày chi tiết các công thức toán học thống kê rừng, công thức tính sản lượng khai thác và doanh thu bình quân trên 1 ha rừng vầu.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương trọng tâm trình bày kết quả thực nghiệm qua các bảng biểu và số liệu phân tích:

  • Hiện trạng diện tích và phân bố: Cung cấp cơ cấu đất đai chi tiết của hai xã, xác định diện tích rừng Vầu đắng thuần loài tại Đôn Phong là 76,65 ha (trong tổng số 11.230 ha đất lâm nghiệp) và tại Cẩm Giàng là 21,42 ha (trong tổng số 621,59 ha đất lâm nghiệp).
  • Đặc điểm sinh trưởng lâm phần: Đánh giá sinh trưởng theo 3 trạng thái rừng (Gỗ xen Vầu, Vầu xen gỗ, Vầu xen Nứa) và theo 2 tiểu vùng sinh thái xã. Phân tích thành phần 27 loài cây gỗ tái sinh và 25 loài cây bụi thảm tươi dưới tán rừng vầu.
  • Khai thác và thị trường tiêu thụ: Thống kê sản lượng khai thác thân khí sinh và măng mọc tự nhiên, phân tích 3 kênh tiêu thụ (tự dùng, bán tại chợ phiên, bán buôn thương lái).
  • Hạch toán giá trị kinh tế: Tổng hợp doanh thu từ thân khí sinh và măng, so sánh hiệu quả giữa hai địa phương.
  • Hệ thống giải pháp đề xuất: Xây dựng 3 nhóm giải pháp đồng bộ về kỹ thuật lâm sinh, cơ chế chính sách và tổ chức quản lý chuỗi giá trị.

Phần 5: Kết luận, tồn tại và kiến nghị

Tóm lược các phát hiện định lượng chính của khóa luận về diện tích, sinh trưởng, năng suất và giá trị kinh tế của rừng Vầu đắng; chỉ rõ các tồn tại trong tập quán khai thác của người dân và đề xuất kiến nghị đối với chính quyền địa phương và cơ quan khuyến nông - lâm.

Kết quả và đóng góp

Số liệu thực nghiệm chính

Khóa luận đã tổng hợp các dữ liệu định lượng thực địa so sánh giữa hai xã nghiên cứu như sau:

Chỉ tiêu theo dõi Đơn vị tính Xã Đôn Phong Xã Cẩm Giàng Trung bình khu vực
Diện tích rừng Vầu đắng thuần loài ha 76,65 21,42 Tổng: 98,07
Diện tích rừng vầu bình quân/hộ ha/hộ 0,59 0,98 0,79
Nhiệt độ trung bình năm °C 20,4 21,5 20,95
Lượng mưa trung bình năm mm 1.860 1.586 1.723
Đường kính thân trung bình ($D_{1.3}$) cm 8,74 8,52 8,63
Chiều cao vút ngọn trung bình ($H_{vn}$) m 11,56 11,14 11,35
Sản lượng thân khí sinh khai thác cây/ha/năm 1.287,20 997,96 1.142,58
Sản lượng măng khai thác kg/ha/năm 814,60 581,30 698,00
Giá bán thân khí sinh (cho thương lái) đồng/cây 2.500 2.500 2.500
Giá bán thân khí sinh (tại chợ) đồng/cây 3.000 3.000 3.000
Giá bán măng (cho thương lái) đồng/kg 12.000 12.000 12.000
Giá bán măng (tại chợ) đồng/kg 15.000 15.000 15.000
Tổng giá trị kinh tế thu được đồng/ha/năm 14.470.000 10.567.000 13.000.000 – 13.500.000

Nghiên cứu cấu trúc lâm phần bổ sung chỉ ra:

  • Ở trạng thái Vầu xen cây gỗ, Vầu đắng sinh trưởng tốt nhất, đạt đường kính $D_{1.3} = 9,27\text{ cm}$ và chiều cao $H_{vn} = 12,02\text{ m}$. Ở rừng thuần loài, mật độ đạt từ 4.800 cây/ha.
  • Mật độ cây gỗ tái sinh dưới tán rừng vầu đạt bình quân 10.500 cây/ha với 27 loài cây gỗ (trong đó có Màng tang, Thôi ba ở giai đoạn rừng phục hồi). Thảm tươi dưới tán có 25 loài (Lá dong, Lông culi, Bòng bong lá nhỏ, Sa nhân...) với độ che phủ 20–30%.
  • Về cơ cấu sử dụng thân khí sinh: 83,28% sản lượng được bán cho thương lái (1.072 cây/ha/năm), 7,56% bán ngoài chợ (97,25 cây/ha/năm), và 9,16% để lại cho gia đình làm hàng rào, vật liệu (117,95 cây/ha/năm).
  • Về cơ cấu tiêu thụ măng: 48,43% bán lẻ tại chợ địa phương (339,11 kg/ha/năm), 37,27% bán buôn cho thương lái vào chính vụ (261,0 kg/ha/năm), và 12,16% tiêu dùng nội bộ gia đình (85,14 kg/ha/năm).

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

Tác giả đề xuất 3 nhóm giải pháp cụ thể:

  1. Nhóm giải pháp kỹ thuật:
    • Tổ chức tập huấn kỹ thuật chăm sóc rừng tự nhiên thuần loài, kỹ thuật thu hái măng và khai thác thân khí sinh theo cấp tuổi (giữ lại cấu trúc tuổi hợp lý: tuổi 1 chiếm 20–30%, tuổi 2–3 chiếm 30–40%, chỉ khai thác cây tuổi 4–5 trở lên).
    • Chuyển đổi phương pháp nhân giống: Áp dụng kỹ thuật nhân giống bằng hom cành hoặc thân khí sinh mang đoạn thân ngầm (tuổi 2) thay thế phương pháp đào bới hom gốc nhằm tránh phá vỡ kết cấu đất và tổn thương hệ thống thân ngầm.
    • Hạn chế phát triển rừng Vầu đắng thuần loài do nguy cơ bùng phát bệnh chổi sể và sâu hại măng. Tiến hành trồng bổ sung hoặc chuyển hóa sang mô hình hỗn giao giữa Vầu đắng với các loài cây gỗ bản địa có khả năng chống chịu cao như Mỡ, các loài cây họ Đậu (Fabaceae).
  2. Nhóm giải pháp chính sách:
    • Hoàn thiện công tác rà soát ranh giới, giao đất giao rừng cụ thể đến từng hộ gia đình để tránh tình trạng tranh chấp và tạo tâm lý an tâm đầu tư dài hạn.
    • Thiết lập cơ chế tín dụng ưu đãi, cho vay vốn dài hạn với lãi suất thấp để các chủ rừng có nguồn vốn đầu tư thâm canh, tu bổ rừng vầu trong giai đoạn nuôi dưỡng.
  3. Nhóm giải pháp tổ chức:
    • Đẩy mạnh tuyên truyền thông qua các tổ chức đoàn thể (Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ) về vai trò bảo vệ tài nguyên và phòng chống khai thác kiệt quệ măng đầu vụ.
    • Xây dựng chuỗi liên kết trực tiếp giữa các hộ dân trồng vầu với các nhà máy, xí nghiệp chế biến tre nứa, tinh chế măng nhằm cắt giảm các tầng nấc trung gian, nâng cao giá trị thu mua thực tế cho người dân.

Đóng góp của đề tài

Khóa luận đã bổ sung nguồn dữ liệu điều tra thực nghiệm chuẩn xác về lâm học và kinh tế lâm sản ngoài gỗ của loài Vầu đắng tại huyện Bạch Thông; chứng minh được mối liên hệ chặt chẽ giữa điều kiện tiểu khí hậu (nhiệt độ, lượng mưa) với năng suất sinh khối và giá trị kinh tế của rừng vầu tại hai xã Đôn Phong và Cẩm Giàng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn một số hạn chế do điều kiện thực hiện:

  • Hạn chế về dữ liệu thực nghiệm: Số lượng mẫu khảo sát PRA còn giới hạn ở quy mô 30 hộ tại 2 xã; việc điều tra thổ nhưỡng chủ yếu dựa trên kế thừa tài liệu mà chưa thực hiện phân tích mẫu đất chuyên sâu trong phòng thí nghiệm; nguồn tài nguyên nước ngầm của huyện chưa được khảo sát đầy đủ.
  • Hạn chế về mặt sinh học: Chưa thể theo dõi đầy đủ chu trình sinh trưởng và phát triển của cây con tái sinh từ hạt do chu kỳ ra hoa kết hạt của cây Vầu đắng kéo dài trên 50 năm và hiện tượng cây chết hàng loạt sau khi ra hoa.
  • Hạn chế về hạch toán: Mô hình kinh tế mới dừng lại ở việc tính tổng doanh thu gộp từ sản lượng tiêu thụ, chưa bóc tách chi tiết các biến phí đầu vào và chi phí cơ hội của công lao động gia đình.

Hướng nghiên cứu tiếp theo: Thiết lập các ô định vị cố định để theo dõi động thái tăng trưởng dài hạn của rừng vầu sau các chế độ tỉa thưa thực nghiệm; nghiên cứu quy trình công nghệ phòng trừ sinh học đối với bệnh chổi sể và sâu hại măng; đánh giá chi tiết chuỗi giá trị và thị trường xuất khẩu sản phẩm chế biến sâu từ Vầu đắng.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tư liệu thực nghiệm hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên cao học các ngành Quản lý Tài nguyên rừng, Lâm học, Lâm nghiệp đô thị, Nông - Lâm kết hợp trong việc tham khảo phương pháp bố trí ô tiêu chuẩn điều tra tre nứa mọc tản và phương pháp đánh giá sinh kế nông thôn qua công cụ PRA.
  • Cán bộ kỹ thuật lâm nghiệp, khuyến nông - khuyến lâm, Hạt Kiểm lâm tại Bắc Kạn và các tỉnh vùng Đông Bắc trong việc xây dựng hướng dẫn kỹ thuật tỉa thưa, điều chế rừng Vầu đắng và lập kế hoạch phát triển lâm sản ngoài gỗ.
  • Các nhà hoạch định chính sách địa phương tham khảo cơ cấu doanh thu và mô hình liên kết thị trường để xây dựng chính sách giao đất giao rừng và hỗ trợ vốn sản xuất.
  • Nội dung tham khảo giá trị nhất: Hệ thống bảng số liệu điều tra OTC 1.000 m² về sinh trưởng $D_{1.3}$, $H_{vn}$ theo trạng thái rừng và bảng hạch toán chi tiết cơ cấu doanh thu từ măng và thân khí sinh theo từng kênh phân phối.

Câu hỏi thường gặp

1. Cây Vầu đắng tại huyện Bạch Thông có đặc điểm hình thái và sinh thái như thế nào? Vầu đắng (Indosasa amabilis) là loài tre mọc tản không gai, thân ngầm đi trong đất ở độ sâu 20–30 cm. Kích thước thân khí sinh trung bình cao 17–20 m, đường kính 10–12 cm (cây lớn đạt 20 cm), lóng dài 30–50 cm (dài nhất 80 cm), vách thân dày 1 cm, thân tươi nặng khoảng 30 kg. Loài này ưa ẩm, chịu bóng tốt (độ tàn che rừng ổn định 0,8–0,9), thích hợp với nhiệt độ 20–22°C, lượng mưa từ 1.600 mm/năm và phân bố tốt trên đất phong hóa từ đá phiến.

2. Tại sao sinh trưởng và năng suất rừng Vầu đắng tại xã Đôn Phong lại cao hơn xã Cẩm Giàng? Số liệu thực nghiệm cho thấy xã Đôn Phong có điều kiện tiểu khí hậu thuận lợi hơn với lượng mưa trung bình năm cao hơn (1.860 mm so với 1.586 mm), độ ẩm không khí cao hơn (86–90% so với 85–87%) và nhiệt độ trung bình mát hơn (20,4°C so với 21,5°C). Do đó, cây Vầu đắng tại Đôn Phong đạt kích thước bình quân lớn hơn ($D_{1.3} = 8,74\text{ cm}$, $H_{vn} = 11,56\text{ m}$) và cho sản lượng khai thác thân khí sinh (1.287,2 cây/ha/năm) cũng như sản lượng măng (814,6 kg/ha/năm) vượt trội so với Cẩm Giàng.

3. Cơ cấu tiêu thụ sản phẩm măng và thân khí sinh Vầu đắng diễn ra qua những kênh nào? Thân khí sinh được khai thác quanh năm và tiêu thụ chủ yếu qua kênh bán buôn cho thương lái chở về xuôi hoặc xuất khẩu (chiếm 83,28% sản lượng, giá 2.500 đ/cây), bán lẻ tại chợ chiếm 7,56% (giá 3.000 đ/cây) và dùng tại chỗ 9,16%. Ngược lại, sản phẩm măng được bán lẻ ngoài chợ là chính (chiếm 48,43%, giá 15.000 đ/kg do bán rải rác đầu và cuối vụ), bán cho thương lái vào chính vụ chiếm 37,27% (giá 12.000 đ/kg) và giữ lại tiêu dùng gia đình chiếm 12,16%.

4. Khóa luận đưa ra khuyến nghị gì về phương pháp nhân giống và cơ cấu loài cây trong rừng vầu? Tác giả khuyến nghị người dân dừng phương pháp đào hom gốc truyền thống nhằm tránh làm đứt rễ ngầm và thoái hóa đất, chuyển sang áp dụng kỹ thuật nhân giống bằng hom cành hoặc hom thân khí sinh tuổi 2 có mang đoạn thân ngầm. Đồng thời, không nên trồng rừng Vầu đắng thuần loài để tránh sâu hại măng và bệnh chổi sể, mà cần phát triển mô hình trồng hỗn giao giữa Vầu đắng với các loài cây gỗ bản địa như Mỡ và cây họ Đậu (Fabaceae).

5. Hiệu quả kinh tế thu được từ 1 ha rừng Vầu đắng thuần loài tại huyện Bạch Thông đạt mức bao nhiêu? Bình quân 1 ha rừng Vầu đắng tại huyện Bạch Thông đem lại thu nhập từ 10.567.000 đồng/năm (tại xã Cẩm Giàng) đến 14.470.000 đồng/năm (tại xã Đôn Phong), mức trung bình toàn khu vực đạt trên 13.000.000 đồng/ha/năm. Trong đó, nguồn thu từ măng chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng giá trị sản phẩm.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Ma Văn Duy đã phản ánh toàn diện và trung thực thực trạng phân bố, đặc điểm sinh thái - sinh trưởng lâm phần và chuỗi giá trị thương phẩm của cây Vầu đắng tại huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn thông qua hệ thống dữ liệu 18 ô tiêu chuẩn và 30 phiếu điều tra thực địa. Kết quả nghiên cứu khẳng định rừng Vầu đắng là nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ có giá trị kinh tế quan trọng, đem lại nguồn thu bình quân từ 10,5 đến 14,4 triệu đồng/ha/năm cho người dân địa phương. Các giải pháp kỹ thuật lâm sinh về nhân giống hom cành, phòng trừ bệnh chổi sể, điều chỉnh cấp tuổi khai thác và chuyển đổi sang mô hình hỗn giao với cây họ Đậu do tác giả đề xuất là cơ sở thực tiễn có giá trị để các cơ quan quản lý lâm nghiệp định hướng khai thác và phát triển bền vững tài nguyên rừng Vầu đắng trên địa bàn.