Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Việt Nam học của tác giả Nguyễn Thị Thúy Ngân (Khoa Việt Nam học và Tiếng Việt, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2016) tiếp cận vấn đề thiết chế văn hóa làng xã trong tiến trình xây dựng nông thôn mới. Nông thôn Việt Nam là khu vực sinh sống của hơn 70% dân số cả nước, nơi nền kinh tế tiểu nông trồng lúa nước đã sớm hình thành nên tính liên kết và ý thức cộng đồng làng xã bền chặt. Trong xã hội truyền thống, đình làng giữ vai trò là trung tâm sinh hoạt cộng đồng, nơi diễn ra các hoạt động chính trị, hành chính, tư pháp, cùng các sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng và lễ hội dân gian. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 và đặc biệt từ năm 1954, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp tại miền Bắc đã làm biến đổi cấu trúc làng quê; phần lớn đình làng bị phá hủy hoặc chuyển đổi công năng sang các mục đích khác, khiến không gian sinh hoạt tập thể chuyển dịch sang hội trường, sân kho hợp tác xã. Bước vào thời kỳ Đổi mới và thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới, Nhà nước và chính quyền các cấp đã đầu tư xây dựng hệ thống nhà văn hóa khu dân cư nhằm tạo lập không gian sinh hoạt văn hóa mới. Tuy nhiên, việc đầu tư xây dựng, quản lý và vận hành các nhà văn hóa này tại địa phương còn bộc lộ nhiều bất cập, nguy cơ gây lãng phí nguồn lực công.
Khóa luận xác định mục đích nghiên cứu là chỉ ra hiện trạng của nhà văn hóa trong đời sống nông thôn tại làng Hương Xạ (khu dân cư số 3, xã Hương Xạ, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ), từ đó nhận xét những điểm mạnh, điểm hạn chế trong khai thác, sử dụng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của thiết chế này. Để đạt được mục đích trên, tác giả đặt ra ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Trình bày tổng quan tình hình chung của làng Hương Xạ từ vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên đến kinh tế, lịch sử, văn hóa - xã hội qua các thời kỳ lịch sử.
- Trình bày các chủ trương của Đảng và Nhà nước về việc xây dựng nhà văn hóa khu dân cư, từ đó làm rõ quá trình triển khai xây dựng nhà văn hóa Hương Xạ.
- Khảo sát, mô tả, đánh giá thực trạng của nhà văn hóa Hương Xạ từ thời điểm xây dựng đến nay, đồng thời đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng công trình.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là tổng thể không gian sinh hoạt và các hoạt động diễn ra tại nhà văn hóa Hương Xạ thuộc xã Hương Xạ, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ. Phạm vi không gian giới hạn tại Nhà văn hóa Hương Xạ (khu dân cư số 3). Phạm vi thời gian tập trung khảo sát, phân tích thực trạng không gian sinh hoạt và các hoạt động từ năm 2006 (năm công trình bắt đầu được xây dựng) đến năm 2016 (thời điểm hoàn thành khóa luận).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên cơ sở đường lối, quan điểm của Đảng và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn và thiết chế văn hóa cơ sở, bao gồm:
- Quan điểm chỉ đạo tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X và lần thứ XI của Đảng; Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011);
- Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/08/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;
- Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28/10/2008 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X;
- Nghị định số 112/2007/NĐ-CP ngày 26/06/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thể dục, thể thao;
- Nghị định số 185/2007/NĐ-CP ngày 25/12/2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;
- Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/04/2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới;
- Quyết định số 22/QĐ-TTg ngày 05/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án "Phát triển văn hóa nông thôn đến năm 2010, định hướng đến năm 2020";
- Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/06/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020;
- Thông tư số 06/2011/TT-BVHTTDL ngày 08/03/2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định mẫu về tổ chức, hoạt động và tiêu chí của Nhà văn hóa - Khu thể thao thôn;
- Kế hoạch số 684/KH-UBND ngày 07/07/2014 của UBND huyện Hạ Hòa về chỉnh trang, tu sửa nhà văn hóa khu dân cư;
- Văn bản số 1145/UBND-VH ngày 22/08/2006 của UBND xã Hương Xạ về việc xây dựng nhà văn hóa Hương Xạ.
Tác giả kế thừa các công trình nghiên cứu đi trước về làng xã và văn hóa nông thôn của các học giả như: "Một số vấn đề về làng xã Việt Nam" (GS.TS Nguyễn Quang Ngọc), "Làng văn hóa cổ truyền Việt Nam" (GS. Vũ Ngọc Khánh), "Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam" (GS. Ngô Đức Thịnh), "Kinh tế Việt Nam thăng trầm và đột phá" (Phạm Minh Chính, Vương Quân Hoàng), cùng kỷ yếu hội thảo và các luận văn chuyên ngành liên quan.
Về phương pháp nghiên cứu, đề tài vận dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành trong khoa học xã hội và nhân văn:
- Phương pháp thống kê: Xử lý, phân loại số liệu định lượng về điều kiện tự nhiên, dân số, kinh phí xây dựng, khối lượng vật tư tu sửa, cơ cấu thiết chế vật chất và tần suất hoạt động.
- Phương pháp logic và lịch sử: Khảo sát quá trình biến đổi lịch sử của làng Hương Xạ và sự chuyển dịch chức năng của các không gian sinh hoạt cộng đồng qua từng thời kỳ (đình làng - hội trường hợp tác xã - nhà văn hóa).
- Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu: Khai thác hệ thống văn bản pháp quy, nghị quyết của Đảng, báo cáo hành chính của địa phương và bản Quy ước làng Hương Xạ.
- Phương pháp điều tra thực tế và phỏng vấn sâu: Quan sát trực tiếp cơ sở vật chất công trình; phỏng vấn sâu các nhân chứng lịch sử tại địa phương (bác Bùi Văn Tạo) và cán bộ trực tiếp quản lý cơ sở (Trưởng khu Vũ Ngọc Hùng, Phó trưởng khu Cù Văn Thụ).
Nguồn dữ liệu của khóa luận gồm số liệu thống kê hành chính của xã Hương Xạ năm 2014 - 2015, hồ sơ lưu trữ về công tác xây dựng và kiểm tra thiết chế văn hóa của UBND xã Hương Xạ từ năm 2006 đến 2014, cùng các dữ liệu điền dã thu thập tại địa bàn.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan làng Hương Xạ, xã Hương Xạ - huyện Hạ Hòa - tỉnh Phú Thọ
Chương 1 phác thảo bức tranh toàn diện về tự nhiên, lịch sử, kinh tế, xã hội và văn hóa của làng Hương Xạ qua các giai đoạn phát triển:
- Điều kiện tự nhiên và môi trường sinh thái: Hương Xạ là xã miền núi thuộc huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ; diện tích tự nhiên là 14.528 ha, tổng dân số 6.814 nhân khẩu (năm 2014) phân bố trên 13 khu hành chính. Vị trí tọa độ từ 21°33' đến 21°52' vĩ độ Bắc và 105°04' đến 105°2' kinh độ Đông. Địa giới tiếp giáp: phía Bắc giáp xã Phương Viên, phía Tây giáp xã Ấm Hạ, phía Đông giáp xã Cáo Điền và Yên Kỳ, phía Nam giáp xã Chính Công. Giao thông đường bộ 100%, nổi bật là tuyến Quốc lộ 32 dài hơn 10 km chạy qua địa bàn (cách thị trấn Hạ Hòa 12 km, cách thành phố Việt Trì 65 km). Địa hình lòng chảo thoải dần theo hướng Đông Nam với các dãy núi cao, tiêu biểu là núi Buộm. Khí hậu nhiệt đới gió mùa Tây Bắc: nhiệt độ trung bình năm 22-24°C (cao nhất 33-34°C, có lúc đạt 41°C; thấp nhất 12-13°C, có lúc xuống 4°C); mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 chiếm 80-85% lượng mưa cả năm. Đất đai gồm đất feralit đỏ vàng, đất phù sa đồi núi, đất lầy thụt, đất bạc màu; tài nguyên rừng có lim xanh, tràm trắng, chò nâu, dẻ gai, dẻ đá, tre nứa.
- Lịch sử hình thành và tổ chức hành chính: Thời Hùng Vương thuộc đất Phong Châu; thời Nguyễn thuộc tổng Yên Kỳ, huyện Hạ Hòa, phủ Lâm Thao, tỉnh Hưng Hóa. Sau năm 1945, làng thuộc xã Phú Ích, huyện Thanh Hòa, tỉnh Vĩnh Phú; từ năm 1969 đổi tên thành xã Hương Xạ, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ. Làng do ông Tống Văn Vụ đại diện cho 4 dòng họ (Tống, Bùi, Phùng, Nguyễn) từ Thái Bình lên khai hoang lập nghiệp cách đây khoảng 300 năm (cuối thời Lê). Cuối thế kỷ 19, cụ Bùi Văn Khai (Phó tổng Yên Kỳ, chức Bá hộ) đứng ra quản lý làng và ủng hộ phong trào chống Pháp của Đề Ngân, Đề Mạc.
- Các giai đoạn lịch sử:
- Thời kỳ trước năm 1945: Kinh tế tiểu nông cấy lúa nước hai vụ (chiêm và mùa) với khoảng 700 - 800 ha ruộng rộc ven suối, trồng hoa màu và khai thác 1000 ha rừng; chợ ven Quốc lộ 32 họp sáng thứ Bảy hàng tuần. Bộ máy quản lý gồm Hội đồng Kỳ mục đứng đầu là Tiên chỉ Bùi Văn Lai và Phó tiên chỉ Nguyễn Văn Bá; quản lý thôn xóm bằng hương ước. Đình làng là trung tâm sinh hoạt chính trị, nộp sưu thuế và thờ Thành hoàng. Chùa Hương Sơn được xây dựng cách đây 300 năm (kết cấu chữ Đinh gồm 3 gian tiền đường, 1 gian hậu cung lợp ngói) nhưng bị sụp đổ năm 1957. Đời sống phong tục ghi nhận tục ăn trầu, sáu lễ cưới (nạp thái, vấn danh, nạp cát, nạp tệ, thỉnh kỳ, thân nghinh) và quy định tang lễ nghiêm ngặt.
- Thời kỳ 1945 - 1954: Ngày 06/09/1945, chính quyền lâm thời được thành lập (ông Tống Văn Vịnh làm Chủ tịch lâm thời). Năm 1946, ông Bùi Văn Thai được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Liên khu Kháng chiến Hành chính (gồm 6 làng). Làng là nơi sơ tán của cơ quan Trung ương, căn cứ đóng quân của tiểu đoàn pháo binh Voi Gầm (Tư lệnh Doãn Tuế), Trung đoàn 209 (Sư đoàn 312), trạm quân y 6 - quân y 4 tham gia chiến dịch sông Lô năm 1949, cơ quan Ủy ban Kháng chiến Liên khu 10 - Việt Bắc, nơi tổ chức Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ 2, và tiểu đoàn an dưỡng 312 (Sư đoàn 316).
- Thời kỳ 1955 - 1986: Sau cải cách ruộng đất, cuối năm 1959 thành lập Hợp tác xã Nông nghiệp Hương Xạ thu hút 50 hộ nông dân (chiếm 85%). Giai đoạn 1980 - 1981 gặp khó khăn do thiên tai; ngày 13/01/1981 triển khai Chỉ thị 100-CT/TW (Khoán 100). Hội trường và sân kho hợp tác xã trở thành không gian sinh hoạt văn hóa, tổ chức chiếu bóng và đám cưới tập thể.
- Thời kỳ 1986 đến 2016: Thực hiện Nghị quyết Khoán 10 năm 1988, chuyển giao ruộng đất và tư liệu sản xuất cho hộ gia đình; đưa các giống lúa mới (X12, U17) vào thâm canh, phát triển kinh tế vườn đồi trang trại (VAC, VACR), giao 644,8 ha đất rừng cho gần 100 hộ (năm 1994), mở rộng chế biến gỗ bóc và chè búp khô (Công ty chè Phú Bền - Hương Xạ). Năm 1993 Chùa Hương Sơn được khôi phục trên nền cũ và tu sửa năm 2006. Các sinh hoạt văn hóa từ năm 1986 diễn ra tại ngôi nhà gỗ ba gian hoặc nhà trưởng thôn trước khi có nhà văn hóa.
Chương 2. Nhà văn hoá Hương Xạ - huyện Hạ Hoà - tỉnh Phú Thọ
Chương 2 trình bày cơ sở pháp lý, quá trình triển khai xây dựng và hiện trạng vật chất của công trình:
- Chủ trương xây dựng nhà văn hóa và quy chuẩn: Trình bày hệ thống văn bản Trung ương và phân tích các tiêu chí mẫu của Thông tư số 06/2011/TT-BVHTTDL về diện tích đất quy hoạch, quy mô hội trường, trang thiết bị âm thanh - ánh sáng - khánh tiết và định mức thu hút người dân tham gia.
- Đời sống văn hóa trước khi có công trình: Khi hợp tác xã thu hẹp vai trò, người dân sinh hoạt tại ngôi nhà lá ba gian dựng trên sân kho cũ hoặc tại nhà trưởng khu. Đời sống cộng đồng được điều chỉnh bởi Bản quy ước làng Hương Xạ gồm 5 chương, 45 điều (Chương 1: Những quy định chung; Chương 2: Phát triển kinh tế, quản lý đất đai, tài nguyên khoáng sản; Chương 3: Quy định về đời sống văn hóa trong việc hiếu - việc hỷ - lễ hội - mừng thọ - tín ngưỡng và thực hiện cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống ở khu dân cư; Chương 4: An ninh trật tự; Chương 5: Khen thưởng và xử lý vi phạm).
- Quá trình triển khai và xây dựng công trình:
- Năm 2006, UBND xã triển khai kế hoạch xây dựng 13 nhà văn hóa tại 13 khu dân cư. Khu dân cư số 3 được chọn làm thí điểm xây dựng "Nhà văn hóa Hương Xạ" dựa trên 4 tiêu chí: tên khu trùng tên làng và tên xã; vị trí trung tâm thuận lợi nhất; dân số đông nhất xã; địa bàn có bề dày lịch sử văn hóa.
- Căn cứ Văn bản số 1145/UBND-VH ngày 22/08/2006 của UBND xã Hương Xạ, Ban chỉ đạo thành lập đội thi công gồm 12 thợ do ông Trần Văn Hòa làm chủ thầu. Công trình khởi công đầu tháng 9 và hoàn thành giữa tháng 12/2006; quy mô nhà cấp 4 gồm 4 gian, diện tích 90 m², tổng chi phí xây dựng 150 triệu đồng từ nguồn hỗ trợ nhà nước và nhân dân đóng góp.
- Đến năm 2015, toàn xã hoàn thành 100% việc xây dựng 13 nhà văn hóa. Tuy nhiên, chỉ có 2 nhà văn hóa đạt chuẩn về tiến độ và diện tích (trên 80 m²) là khu 3 và khu 10; 11 nhà văn hóa còn lại thi công kéo dài từ 2 đến 3 năm, vị trí xa khu dân cư (khu 2, 5, 6) hoặc thiếu trang thiết bị và chưa quét ve (khu 1, 4, 7, 8, 9, 11).
- Công tác chỉnh trang năm 2014: Thực hiện Kế hoạch số 684/KH-UBND ngày 07/07/2014 của UBND huyện Hạ Hòa, ngày 12/08/2014 địa phương tổ chức lễ ra quân tu sửa và hoàn thành bàn giao vào ngày 19/09/2014. Tổng kinh phí 20 triệu đồng (ngân sách xã hỗ trợ 7 triệu đồng; vật tư: 388 cây tre; cây giống làm hàng rào: 640 cây; 42 ngày công lao động); ghi nhận sự đóng góp của ông Trần Công Đô và ông Vũ Ngọc Hùng.
- Hiện trạng diện mạo vật chất: Nhà văn hóa tọa lạc sát Quốc lộ 32, mặt trước hướng ra quốc lộ, mặt sau giáp cánh đồng lúa. Diện tích xây dựng 90 m², tường cao 4,6 m, nền láng xi măng cao 0,45 m; mái lợp fibroximang kết hợp tôn chống nóng màu trắng; hệ thống cửa gồm 3 cửa chính và 5 cửa sổ. Sân bê tông phía trước rộng 100 m² dùng làm sân thể thao, cột cờ sắt cao 15 m. Bên trong gồm: khán đài rộng 14 m² (phông nền xanh, băng rôn "Đảng cộng sản Việt Nam quang vinh", tượng Bác Hồ bằng thạch cao đặt trên bệ gỗ cao 1,3 m, lẵng hoa nhựa, bục phát biểu bằng gỗ, bàn gỗ để ti vi 21 inch, 1 bộ tăng âm, 2 loa, 2 micro); hội trường rộng hơn 70 m² trang bị 24 ghế băng dài bằng gỗ, 6 quạt trần, 2 khẩu hiệu chính trị, khung ảnh hoạt động tư liệu, 2 giấy khen cấp huyện và 10 giấy khen cấp xã. Đánh giá chung, cơ sở vật chất đáp ứng được 80% tiêu chí trang thiết bị theo quy định.
Chương 3: Hoạt động của Nhà văn hoá Hương Xạ và những vấn đề đặt ra
Chương 3 khảo sát cơ chế điều hành, các dạng hoạt động thực tế và những mặt hạn chế trong vận hành:
- Cơ chế quản lý và tổ chức: Công trình chưa thành lập Ban quản lý chuyên trách mà do Trưởng khu và Phó trưởng khu trực tiếp phụ trách. Trưởng khu là ông Vũ Ngọc Hùng (học vấn 10/10, hưởng mức phụ cấp trông coi 400.000 đồng/tháng); Phó trưởng khu là ông Cù Văn Thụ (học vấn 10/10, hưởng phụ cấp 300.000 đồng/tháng). Hai cán bộ chịu trách nhiệm bảo quản chìa khóa, dọn vệ sinh (định kỳ 2 lần/tháng), tiếp nhận đăng ký lịch họp và điều hành cơ sở vật chất.
- Giám sát của chính quyền xã: UBND xã thành lập tổ công tác kiểm tra định kỳ vào tháng 8 và tháng 9 hàng năm:
- Đợt 1 (ngày 07/08/2012): Ghi nhận cơ sở vật chất cơ bản đáp ứng sinh hoạt nhưng còn thiếu tường rào, cổng, sân bê tông, nhà vệ sinh, lán xe và cây cảnh.
- Đợt 2 (ngày 10/09/2013): Ghi nhận chưa có văn bản ban hành quy chế hoạt động và chưa có quyết định thành lập Ban quản lý; tường bị bong tróc cần quét vôi, 2 quạt trần bị hỏng, ghế ngồi và hệ thống tăng âm - loa đài xuống cấp; các hạng mục phụ trợ từ năm 2012 chưa được xây dựng bổ sung.
- Đợt 3 (ngày 19/08/2013 - số liệu báo cáo đợt kiểm tra tiếp theo trong văn bản): Đã xây dựng bổ sung sân, nhà vệ sinh, trồng cây xanh; quy chế hoạt động đã hoàn thiện và quyết định thành lập ban quản lý đang được triển khai; tuy nhiên vẫn thiếu cổng và tường rào bao quanh.
- Nội dung các hoạt động thực tế:
- Phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước;
- Triển khai các nghị quyết của Đảng ủy, HĐND, UBND và nhiệm vụ chính trị địa phương;
- Tổ chức các cuộc họp dân thảo luận các vấn đề sản xuất, trật tự, giao chỉ tiêu kinh tế - xã hội;
- Phục vụ hội họp của các đoàn thể (Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên, Hội Người cao tuổi);
- Tổ chức mít tinh, kỷ niệm các ngày lễ lớn (10/3 âm lịch, 26/3, 30/4, 01/5, 01/6) và bầu cử Quốc hội, HĐND;
- Sinh hoạt văn nghệ quần chúng (tiêu biểu là đêm giao lưu văn nghệ mùng 2 Tết Nguyên đán);
- Thi đấu thể dục thể thao (bóng chuyền, cầu lông trên sân bê tông);
- Mở các lớp tập huấn khuyến nông định kỳ ít nhất mỗi tháng 1 lần (hướng dẫn chọn giống lúa, phòng trừ sâu bệnh, vệ sinh chuồng trại, phòng chống cháy rừng).
- Tồn tại, kiến nghị và giải pháp:
- Tồn tại: Bộ máy quản lý kiêm nhiệm, thiếu quy định chặt chẽ từ cấp trên; nguồn kinh phí hạn chế; cơ sở vật chất còn thiếu cổng, tường rào khép kín; một số trang thiết bị nhanh xuống cấp; các hoạt động văn hóa nghệ thuật chưa phong phú, chủ yếu tập trung vào hội họp hành chính.
- Ý kiến của người dân: Đề nghị hoàn thiện khuôn viên, sửa chữa thiết bị hỏng, bổ sung kinh phí hoạt động và tổ chức thêm các sân chơi cho thiếu nhi, thanh niên.
- Giải pháp đề xuất: Hoàn thiện quy chế quản lý bằng văn bản; thành lập Ban quản lý theo Thông tư 06/2011/TT-BVHTTDL; huy động xã hội hóa để xây dựng tường rào, cổng ngõ, nâng cấp âm thanh; tăng phụ cấp cho cán bộ quản lý; chủ động đổi mới hình thức sinh hoạt văn hóa - thể thao đa dạng.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã khảo sát thực chứng và tổng hợp các số liệu cụ thể về quá trình xây dựng, đầu tư trang thiết bị và tổ chức vận hành tại Nhà văn hóa Hương Xạ, đồng thời đối sánh với bức tranh chung của xã Hương Xạ.
| Danh mục chỉ tiêu / Hạng mục |
Nhà văn hóa Hương Xạ (Khu dân cư số 3) |
Toàn xã Hương Xạ (13 khu dân cư) |
| Năm khởi công - hoàn thành |
Khởi công 09/2006, hoàn thành 12/2006 |
Triển khai từ 2006, hoàn thành 100% vào năm 2015 |
| Quy mô diện tích xây dựng |
90 m² (nhà cấp 4, 4 gian) |
Đa số các khu còn lại chưa đạt chuẩn diện tích (dưới 80 m²) |
| Kinh phí đầu tư ban đầu |
150 triệu đồng |
1.612 triệu đồng (tổng các nguồn hỗ trợ và dân đóng góp) |
| Tiến độ thi công |
Hoàn thành sau hơn 2 tháng |
11 khu còn lại thi công chậm, kéo dài từ 2 đến 3 năm |
| Đợt chỉnh trang, tu sửa 2014 |
Hoàn thành từ 12/08/2014 đến 19/09/2014; tổng kinh phí 20 triệu đồng (xã hỗ trợ 7 triệu đồng), 388 cây tre, 640 cây giống, 42 công lao động |
Thực hiện theo Kế hoạch số 684/KH-UBND của huyện Hạ Hòa |
| Mức độ đáp ứng trang thiết bị |
Đạt khoảng 80% tiêu chuẩn theo Thông tư 06/2011/TT-BVHTTDL |
Nhiều khu chưa có ve quét, thiếu tăng âm, loa đài, bàn ghế |
| Bộ máy quản lý trực tiếp |
Trưởng khu (phụ cấp 400.000 đồng/tháng), Phó trưởng khu (phụ cấp 300.000 đồng/tháng) |
Trưởng khu, thôn quản lý kiêm nhiệm |
Khóa luận đưa ra các giải pháp thực tế nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động: kiện toàn Ban quản lý có cơ chế hoạt động tự quản rõ ràng; tăng mức hỗ trợ kinh phí cho người phụ trách trông coi; huy động nguồn lực địa phương xây dựng tường rào, cổng bảo vệ; mở rộng câu lạc bộ văn hóa, thể thao phục vụ người già và thanh thiếu nhi.
Về mặt đóng góp, đây là công trình nghiên cứu trường hợp (case-study) cụ thể về thiết chế nhà văn hóa cơ sở tại một làng quê trung du miền núi Bắc Bộ. Trong khi phần lớn các nghiên cứu trước đây chỉ khái quát chung về văn hóa làng xã hoặc chính sách nông thôn mới tầm vĩ mô, khóa luận đã bổ sung nguồn tư liệu thực địa chi tiết từ cấp thôn xóm, chỉ ra khoảng cách giữa quy chuẩn văn bản (Thông tư 06/2011/TT-BVHTTDL) với thực tế vận hành tại địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tồn tại một số hạn chế do tác giả bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học và điền dã thực tế:
- Phạm vi nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở một công trình đơn lẻ (nhà văn hóa khu 3) trên địa bàn một xã miền núi, chưa thực hiện khảo sát so sánh chuyên sâu với các nhà văn hóa ở vùng đồng bằng hoặc đô thị hóa.
- Dữ liệu thống kê về tần suất sử dụng và số lượng người tham gia trong từng hoạt động cụ thể chưa được lập thành chuỗi số liệu định lượng liên tục qua các năm, do việc ghi chép sổ sách tại cơ sở thôn xóm còn thiếu đồng bộ.
Hướng nghiên cứu mở rộng được gợi mở từ đề tài là:
- Mở rộng khảo sát so sánh mô hình tổ chức và hiệu quả vận hành của thiết chế nhà văn hóa giữa các vùng sinh thái văn hóa khác nhau (miền núi, trung du, đồng bằng ven biển).
- Nghiên cứu cơ chế tự chủ tài chính và giải pháp xã hội hóa nguồn kinh phí bảo dưỡng, tổ chức hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa - thể thao cơ sở trong các giai đoạn nâng cao của chương trình xây dựng nông thôn mới.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Việt Nam học, Văn hóa học, Xã hội học, Quản lý văn hóa và Xây dựng nông thôn mới khi nghiên cứu về thiết chế văn hóa cơ sở và sự chuyển đổi nếp sống làng xã Việt Nam.
Tài liệu có giá trị tham khảo thiết thực ở hai phần chính:
- Hệ thống tư liệu lịch sử, phong tục, tập quán, tổ chức hành chính và truyền thống kháng chiến của làng Hương Xạ (Chương 1), được sưu tầm thông qua lời kể của các nhân chứng bô lão địa phương kết hợp tài liệu thư tịch cổ.
- Toàn bộ hồ sơ khảo sát thực tế, số liệu kinh phí đầu tư, các biên bản kiểm tra giám sát hành chính và bản quy ước văn hóa làng (Chương 2 và Chương 3), cung cấp cứ liệu xác thực cho cán bộ quản lý văn hóa cấp xã, huyện trong việc đánh giá và hoàn thiện tiêu chí cơ sở hạ tầng văn hóa nông thôn mới.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao nhà văn hóa khu dân cư số 3 lại được lựa chọn làm điểm xây dựng thí điểm và mang tên chung là Nhà văn hóa Hương Xạ?
Nhà văn hóa khu dân cư số 3 được Đảng bộ và nhân dân xã Hương Xạ thống nhất chọn làm điểm thí điểm xây dựng đầu tiên vào năm 2006 dựa trên 4 lý do: tên của khu trùng với tên làng và tên xã; khu có vị trí trung tâm thuận tiện giao thông nhất; đây là khu vực tập trung dân số đông nhất xã; địa bàn lưu giữ nhiều dấu tích lịch sử và văn hóa nhất xã (dấu tích chùa Hương Sơn, ký ức đình làng cổ, căn cứ đóng quân của bộ đội thời kỳ kháng chiến).
2. Quy mô kiến trúc và các trang thiết bị ban đầu của Nhà văn hóa Hương Xạ được xây dựng như thế nào?
Công trình được khởi công đầu tháng 9 và hoàn thành tháng 12 năm 2006 với diện tích xây dựng 90 m², là nhà cấp 4 gồm 4 gian, chiều cao tường 4,6 m, nền láng xi măng cao 0,45 m, mái lợp fibroximang phủ tôn cách nhiệt trắng, có 3 cửa chính và 5 cửa sổ. Bên trong hội trường bố trí 24 ghế dài bằng gỗ, 6 quạt trần, sân khấu 14 m² có tượng Bác Hồ bằng thạch cao trên bệ gỗ 1,3 m, bục phát biểu, ti vi 21 inch, 1 bộ tăng âm, 2 loa và 2 micro.
3. Đợt chỉnh trang, tu sửa Nhà văn hóa Hương Xạ năm 2014 đã huy động những nguồn lực cụ thể nào?
Thực hiện Kế hoạch 684/KH-UBND của huyện Hạ Hòa, đợt chỉnh trang diễn ra từ ngày 12/08/2014 đến ngày 19/09/2014 với tổng kinh phí 20 triệu đồng (ngân sách xã hỗ trợ 7 triệu đồng), cùng sự đóng góp của nhân dân gồm 388 cây tre làm cọc rào, 640 cây giống trồng hàng rào và 42 ngày công lao động để san lấp mặt bằng, sơn sửa tường nhà, giặt rèm phông, làm sân thể thao bê tông 100 m² và xây công trình vệ sinh.
4. Cơ chế vận hành và mức thù lao của cán bộ trực tiếp quản lý Nhà văn hóa Hương Xạ tại thời điểm khảo sát ra sao?
Nhà văn hóa chưa thành lập Ban quản lý riêng mà do Trưởng khu và Phó trưởng khu trực tiếp điều hành kiêm nhiệm từ việc giữ chìa khóa, tiếp nhận lịch họp, mở cửa đến dọn dẹp vệ sinh (2 lần/tháng). Trưởng khu là ông Vũ Ngọc Hùng (trình độ 10/10) nhận thù lao 400.000 đồng/tháng; Phó trưởng khu là ông Cù Văn Thụ (trình độ 10/10) nhận thù lao 300.000 đồng/tháng.
5. Kết quả kiểm tra, giám sát của UBND xã Hương Xạ trong các năm 2012 - 2013 đã chỉ ra những tồn tại vật chất nào của nhà văn hóa?
Các đợt kiểm tra chỉ rõ công trình chậm ban hành quy chế hoạt động bằng văn bản; chưa có quyết định thành lập Ban quản lý chính thức; tường nhà bị ẩm mốc bong tróc, quạt điện bị hỏng 2 chiếc, hệ thống âm thanh chập chờn; khuôn viên bên ngoài thiếu cổng ra vào và thiếu tường rào bao quanh khép kín.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Thúy Ngân là một công trình nghiên cứu trường hợp công phu thuộc ngành Việt Nam học, phản ánh chân thực tiến trình chuyển dịch không gian sinh hoạt cộng đồng từ đình làng truyền thống, trụ sở hợp tác xã thời kỳ bao cấp sang nhà văn hóa trong thời kỳ xây dựng nông thôn mới. Thông qua việc khảo sát điển cứu tại làng Hương Xạ (huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ), công trình đã ghi nhận những nỗ lực đầu tư hạ tầng văn hóa cơ sở của chính quyền và người dân địa phương, đồng thời chỉ ra các điểm nghẽn thực tế về cơ chế quản lý kiêm nhiệm, nguồn kinh phí hạn hẹp và trang thiết bị thiếu đồng bộ. Đây là nguồn dữ liệu điền dã có giá trị khoa học và thực tiễn, đóng góp thiết thực cho công tác nghiên cứu văn hóa làng xã và hoạch định chính sách thiết chế văn hóa nông thôn hiện nay.