Luận văn thạc sĩ: Vai trò của Nhà nước bảo đảm quyền con người ở Việt Nam

Chuyên khảo Luận văn: vai trò nhà nước & quyền con người ở việt nam phân tích chuyên sâu các khía cạnh quan trọng trong lĩnh vực hiện nay

Chuyên ngành

Triết Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2020

110
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái Niệm và Nền Tảng Lý Luận về Quyền Con Người

Quyền con người là giá trị cao quý, thành quả đấu tranh chung của toàn nhân loại chống lại áp bức và bất công. Bảo đảm quyền con người trở thành khát vọng của loài người và là giá trị cơ bản mà các chế độ xã hội luôn hướng tới. Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, quyền con người không phải là tuyệt đối mà phải gắn liền với trách nhiệm của con người đối với xã hội. Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo đảm quyền con người nhấn mạnh sự kết hợp giữa quyền và nghĩa vụ, đặt con người làm trung tâm của phát triển. Với sự phát triển của lịch sử, vấn đề bảo đảm quyền con người được nhận thức và thực hiện tốt hơn, những giá trị về quyền con người ngày càng được mở rộng và hoàn thiện trong các lĩnh vực khác nhau.

1.1. Định Nghĩa Quyền Con Người và Bảo Đảm Quyền Con Người

Quyền con người là tập hợp những quyền cơ bản, bẩm sinh mà mỗi con người được hưởng từ khi sinh ra. Bảo đảm quyền con người là quá trình mà nhà nước và xã hội tạo điều kiện, môi trường pháp lý để con người thực hiện các quyền của mình. Bao gồm các lĩnh vực: quyền chính trị, quyền kinh tế, quyền văn hóa, quyền xã hội. Việc bảo đảm quyền con người đòi hỏi sự cam kết, hành động thực tế từ phía nhà nước, pháp luật và toàn xã hội.

1.2. Quan Điểm của Các Trường Phái Triết Học về Quyền Con Người

Triết học phương Tây cận đại xem quyền con người là quyền tự nhiên, tiền thể chính quyền. Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng quyền con người là kết quả của phát triển xã hội, gắn liền với điều kiện kinh tế. Tư tưởng Hồ Chí Minh kế thừa những giá trị tiến bộ từ các trường phái nhưng có sáng tạo riêng, nhấn mạnh bảo đảm quyền con người phải phục vụ mục đích phục vụ nhân dân, xây dựng xã hội công bằng.

II. Vai Trò của Nhà Nước trong Bảo Đảm Quyền Con Người

Nhà nước đóng vai trò trung tâm, không thể thay thế trong bảo đảm quyền con người. Thông qua hệ thống pháp luật, chính sách công, nhà nước tạo ra khung pháp lý, cơ chế để con người thực hiện các quyền cơ bản. Vai trò của nhà nước bao gồm: lập pháp bảo vệ quyền con người, hành pháp thực thi các chính sách này, và tư pháp xử lý các vi phạm. Đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế và văn hóa, nhà nước phải đảm bảo mỗi công dân có cơ hội tiếp cept giáo dục, chăm sóc sức khỏe, có việc làm ổn định với mức lương xứng đáng. Bảo đảm quyền con người hiện đại đòi hỏi nhà nước phải là một nhà nước pháp quyền, dân chủ và xã hội.

2.1. Tầm Quan Trọng của Nhà Nước đối với Quyền Con Người

Nhà nước là công cụ chính để bảo đảm quyền con người ở mức độ lớn nhất. Nó sở hữu sức mạnh, tài nguyên và quyền lực để ban hành các chính sách bảo vệ quyền con người. Không có nhà nước, việc bảo đảm quyền con người sẽ chỉ mang tính cá nhân, không có tính hiện thực và bổn chỉ. Nhà nước pháp quyền là điều kiện cần thiết để bảo vệ quyền cơ bản của mọi công dân một cách công bằng, khách quan.

2.2. Nội Dung Vai Trò Nhà Nước trong Lĩnh Vực Kinh Tế và Văn Hóa

Trong lĩnh vực kinh tế, nhà nước phải điều tiết thị trường, bảo vệ quyền lao động, đảm bảo mức sống tối thiểu cho công dân. Trong lĩnh vực văn hóa, nhà nước có trách nhiệm cấp phát nguồn lực cho giáo dục, y tế, bảo vệ di sản văn hóa. Bảo đảm quyền con người trong hai lĩnh vực này yêu cầu nhà nước phải có chính sách toàn diện, bền vững và được thực hiện một cách công bằng cho toàn xã hội.

III. Thực Trạng Bảo Đảm Quyền Con Người ở Việt Nam Hiện Nay

Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong bảo đảm quyền con người trong những năm gần đây. Nhà nước Việt Nam đã hoàn thiện hệ thống pháp luật, ban hành nhiều luật, chính sách liên quan đến quyền lao động, quyền tiếp cập giáo dục, quyền chăm sóc sức khỏe. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế đáng lưu ý: chênh lệch giàu nghèo, tiếp cập không công bằng đến các dịch vụ xã hội, áp lực về việc làm trong điều kiện kinh tế thay đổi. Bảo đảm quyền con người ở Việt Nam cần tiếp tục được cải thiện thông qua tăng cường thực thi pháp luậtnâng cao nhận thức xã hội về tầm quan trọng của quyền cơ bản.

3.1. Những Thành Tựu của Nhà Nước Việt Nam

Nhà nước Việt Nam đã phê chuẩn nhiều công ước quốc tế về quyền con người, xây dựng nền tảng pháp lý vững chắc. Đã phát triển các chính sách xã hội: giáo dục bắt buộc, bảo hiểm y tế, chương trình hỗ trợ người nghèo. Tỷ lệ cấp phát độ thành thạo kỹ năng tăng lên đáng kể. Quyền con người được ghi nhận và bảo vệ tốt hơn trong các luật mới liên quan đến lao động, giáo dục.

3.2. Những Hạn Chế và Nguyên Nhân

Hạn chế chủ yếu: bất bình đẳng trong tiếp cập dịch vụ công, thiếu cơ chế giám sát hiệu quả, chênh lệch vùng giữa thành thị và nông thôn. Nguyên nhân: nhận thức chưa đầy đủ về quyền con người, năng lực tổ chức thực hiện còn hạn chế, thiếu nguồn lực tài chính. Cần nâng cao chất lượng thực thi pháp luật và tăng cường giám sát xã hội.

IV. Giải Pháp Phát Huy Vai Trò Nhà Nước trong Bảo Đảm Quyền Con Người

Để phát huy vai trò nhà nước trong bảo đảm quyền con người ở Việt Nam, cần áp dụng các giải pháp toàn diện trên nhiều phương diện. Đầu tiên, hoàn thiện khung pháp lý bằng cách ban hành, sửa đổi luật phù hợp với tình hình hiện tại và cam kết quốc tế. Thứ hai, tăng cường năng lực thực thi thông qua đào tạo cán bộ, nâng cao chuyên môn. Thứ ba, tăng cường giám sát, minh bạch trong quá trình thực thi chính sách bảo vệ quyền con người. Cuối cùng, nâng cao nhận thức xã hội qua giáo dục, thông tin công khai về tầm quan trọng của quyền con người. Những giải pháp này sẽ giúp nhà nước Việt Nam phát huy vai trò hiệu quả trong bảo đảm quyền con người.

4.1. Giải Pháp trong Lĩnh Vực Kinh Tế

Tăng cường bảo vệ quyền lao động qua luật lao động hoàn thiện, giám sát điều kiện làm việc, công bằng trong lương thưởng. Phát triển chương trình hỗ trợ xã hội cho người thu nhập thấp, dân tộc thiểu số. Đầu tư vào giáo dục dạy nghề để nâng cao kỹ năng lao động. Tạo cơ hội việc làm bình đẳng, không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo. Những giải pháp này sẽ bảo đảm quyền kinh tế con người tốt hơn.

4.2. Giải Pháp trong Lĩnh Vực Văn Hóa

Đầu tư mạnh mẽ vào giáo dục với chất lượng cao, công bằng, tiếp cập cho tất cả trẻ em. Phát triển hệ thống y tế đạt tiêu chuẩn quốc tế, bảo vệ sức khỏe công cộng. Hỗ trợ bảo tồn di sản văn hóa, quyền thực hành tự do tín ngưỡng. Nâng cao chất lượng thông tin công khai, tự do ngôn luận, quyền tiếp cập thông tin. Những giải pháp này sẽ bảo đảm quyền văn hóa con người một cách hiệu quả.

22/12/2025
Luận văn thạc sĩ vai trò của nhà nước đối với việc bảo đảm quyền con người ở việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 2 chương, 6 tiết. 11 hƣơng 1 VAI TRÒ CỦ ƢỚ Đ I VỚI BẢ ĐẢM QUYỀN CON ƢỜI- M T S VẤ ĐỀ LÝ LUẬN 1. Quyền con ngƣời và bảo đảm quyền con ngƣời 1. Khái niệm về quyền con người và bảo đảm quyền con người - Khái niệm về quyền con người Để làm rõ khái niệm bảo đảm quyền con người, trước tiên cần tìm hiểu quyền con người là gì? Cho đến nay, có hàng trăm định nghĩa khác nhau về quyền con người dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau, điển hình là: Xét về bản chất quyền con người, Thuyết nhân quyền pháp lý có điểm hợp lý là gắn quyền con người với pháp luật, với nhà nước và thấy được vai trò quan trọng, tầm quan trọng của pháp luật trong việc bảo vệ quyền con người "không có pháp luật thì không có quyền".

Tuy nhiên, nếu chỉ coi ý chí nhà nước là nguồn gốc của quyền con người, coi trọng tính hợp pháp của quyền mà không quan tâm đến tính hợp lý của quyền con người (đó là những đòi hỏi, nhu cầu bẩm sinh, tự nhiên, hợp lý của cuộc sống con người, coi nhẹ cơ sở giá trị của đạo đức, văn hóa…) sẽ rơi vào chủ quan, siêu hình, biến quyền con người trở thành công cụ phục vụ giới cầm quyền, cổ vũ tính quan liêu của bộ máy nhà nước. Từ phương diện "Pháp quyền tự nhiên"(Natural rights), "nhân quyền là những quyền bẩm sinh, vốn có của con người" [59, tr. Đó là quyền tự nhiên và cố hữu của con người, là những đặc quyền được các quy tắc điều khiển mà con người giữ riêng lấy trong các quan hệ của mình với những cá nhân và chính quyền. Các định nghĩa về quyền con người này bắt nguồn từ Thuyết pháp quyền tự nhiên thời kỳ Phục Hưng.

Theo học thuyết này, ở trạng thái tự nhiên, con người có các quyền tự do, bình đẳng và tư hữu. Đó là các 12 quyền bẩm sinh, vốn có được bắt nguồn từ bản chất muôn đời và bất biến của con người. Trách nhiệm của nhà nước là phải bảo đảm các quyền tự nhiên cho các công dân của họ. Bằng việc khẳng định các quyền con người là tự nhiên, bẩm sinh, Thuyết pháp quyền tự nhiên thể hiện khát vọng của các thế lực tiến bộ chống lại những bất công trong xã hội, đòi quyền con người.

Tuy nhiên, nếu quá nhấn mạnh tính tự nhiên của quyền con người dễ dẫn đến xem nhẹ nguồn gốc xã hội của quyền con người, không thấy được tính lịch sử, tính giai cấp của quyền con người. Từ phương diện chính trị- xã hội, học giả Trung Quốc, Lang Nghị Hoài cho rằng: "quyền con người là một phạm trù xã hội mang tính tổng hợp, là sự giới định và thừa nhận xã hội mà con người giành được với tư cách là một tồn tại xã hội" [18, tr. Vấn đề "then chốt là ở chỗ phải gắn tiêu chuẩn quyền con người với những lý giải khác nhau và tính đặc thù của mỗi quốc gia, mỗi giai cấp" [18, tr. Với cách tiếp cận này, quyền con người không phải xuất phát từ bản năng mà chịu sự chi phối của chế độ xã hội.

Điểm hợp lý của quan niệm nhân quyền này là nhấn mạnh sự thừa nhận của xã hội và lịch sử đấu tranh của con người giành lấy quyền của mình, song nếu quá nhấn mạnh đến tính xã hội của quyền con người, dễ dẫn đến phủ nhận hoặc coi thường quyền con người với tư cách là con người cá nhân, hòa tan giá trị cá nhân vào trong xã hội. Từ phương diện đạo đức, nhân quyền được định nghĩa "là quyền lợi được thừa nhận, bảo đảm rõ ràng về mặt pháp lý để mỗi cá nhân có thể được hưởng một cách độc lập, đầy đủ, tự do nhất về các lĩnh vực cá tính, tinh thần, đạo đức" [60, tr. Từ các cách tiếp cận trên cho thấy, quyền con người là vấn đề chính trị- xã hội phức tạp. Nhận thức về quyền con người không chỉ phụ thuộc vào quan điểm chính trị, mà còn ảnh hưởng sâu sắc truyền thống lịch sử, văn hóa 13 của mỗi quốc gia.

Thời gian qua, khi các nước Phương Tây luôn có xu hướng đề cao quyền cá nhân, coi trọng tính tự nhiên của quyền con người, xem quyền dân sự, chính trị là nội dung quan trọng, cốt lõi của quyền con người thì ở Phương Đông lại đề cao quyền lợi của cộng đồng, nhấn mạnh đến tính lịch sử, xã hội của quyền con người, coi trọng các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa của con người cũng như điều kiện để thực hiện các quyền đó. Trong bối cảnh chưa có quan điểm thống nhất về quyền con người, có thể dẫn đến những lý giải tùy tiện về nguồn gốc, bản chất của quyền con người. Vì vậy, để tránh lạm dụng vấn đề quyền con người, cần phải có một quan niệm thống nhất. Do đó, tác giả cho rằng, quyền con người là một phạm trù chính trị- xã hội - lịch sử, phản ánh nhu cầu, lợi ích, năng lực vốn có, chỉ có ở con người dưới hình thức các chuẩn mực khách quan, được xã hội thừa nhận và bảo đảm bằng các quy định pháp luật.

Khái niệm quyền con người mà tác giả đưa ra thể hiện những nội dung cơ bản sau: Thứ nhất, quyền con người là những nhu cầu, lợi ích vốn có và cần phải có của con người để tồn tại với tư cách là một "thực thể tự nhiên" (nhu cầu để sống, để sinh tồn) và với tư cách là một "nhân tính tự do" (nhu cầu về sự phát triển năng lực vốn có của bản thân, về sự hoàn thiện nhân cách). Các nhu cầu vốn có này áp dụng chung cho tất cả mọi người mà không có sự phân biệt nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội v. "Sự hiện diện các quyền con người phụ thuộc vào con người chứ không phải phụ thuộc vào địa vị của họ trong nền văn hóa, hoàn cảnh hoặc hệ thống xã hội mà họ đang sinh sống" [58, tr. Thứ hai, các nhu cầu, lợi ích của con người mang tính thiết yếu và có mối quan hệ thống nhất, không thể tách rời.

Mức độ bảo đảm các nhu cầu, lợi ích này không phải đều như nhau mà phải có thứ tự ưu tiên, nghĩa là có những 14 nhu cầu cần phải bảo đảm trước tiên để làm tiền đề, nền tảng cho việc thực hiện các nhu cầu khác. Chẳng hạn, nhu cầu sinh tồn là nhu cầu đầu tiên và thiết yếu của con người. Để bảo đảm được nhu cầu sinh tồn (quyền sống), con người cần có thức ăn, nước uống, môi trường sống.Vì thế, các quyền con người (với tính cách là những nhu cầu được xã hội thừa nhận) có mối quan hệ biện chứng, quy định lẫn nhau, trong đó, có những quyền là tiền đề, là hạt nhân, là chuẩn mực của việc thực hiện các quyền khác. Thứ ba, những nhu cầu, năng lực, lợi ích này phải được xã hội thừa nhận và bảo đảm thông qua các chế định pháp luật.

Pháp luật là phương tiện chính thức hóa các giá trị xã hội của quyền con người. Nếu không có sự thừa nhận của xã hội thông qua pháp luật thì những nhu cầu, lợi ích vốn có của con người chưa trở thành quyền mà chỉ dừng lại ở mong muốn, khát vọng mà thôi. Do đó, sự ghi nhận của pháp luật đã "khuôn" các nhu cầu, lợi ích của con người vào điều kiện thực tế. Hơn nữa, việc ghi nhận của pháp luật về các quyền con người còn thể hiện mối quan hệ giữa pháp luật và các điều kiện bảo đảm khác (chính trị, kinh tế, văn hóa.

Các điều kiện trên đều phải thông qua pháp luật, thể hiện dưới hình thức pháp luật mới trở thành giá trị xã hội ổn định, được hiện thực hóa trên qui mô toàn xã hội. Chỉ có như vậy thì các điều kiện đó mới phát huy được vai trò của mình trong việc bảo đảm quyền con người. Để hiểu rõ hơn về quyền con người, chúng ta phân biệt: quyền con người và quyền công dân. Đây là hai phạm trù gần nhưng không hoàn toàn đồng nhất.

Quyền công dân (citizen’ ringhts) chỉ gắn liền với sự xuất hiện của cách mạng tư sản. Có thể khẳng định, cách mạng tư sản đã cống hiến cho nhân loại một giá trị nhân văn to lớn là đưa con người từ những địa vị thần dân trở 15 thành những công dân (với tư cách là những thành viên bình đẳng của một nhà nước) và pháp điển hóa các quyền tự nhiên của con người dưới hình thức các quyền công dân trong pháp luật. Xét về bản chất, "quyền công dân chính là quyền con người được các nhà nước thừa nhận và áp dụng cho công dân của nước mình" [16, tr. Quyền công dân là quyền con người trong một xã hội cụ thể, đứng trong một chế độ chính trị, xã hội nhất định với hệ thống pháp luật cụ thể do nhà nước thừa nhận và quy định.

Do đó, quyền công dân là quyền con người với tư cách là thành viên của cộng đồng chính trị, cộng đồng nhà nước. Nói cách khác, đó là những quyền chính trị, những quyền cá nhân con người với tư cách là thành viên "xã hội công dân", còn "quyền con người là những đặc quyền chỉ có ở con người với tư cách là con người, là thành viên của xã hội loài người" [56, tr. Nếu như quyền công dân là sự thể chế hóa về mặt nhà nước bằng pháp luật địa vị con người trong khuôn khổ nhà nước, là sự thừa nhận, trong chừng mực mà nhà nước chấp nhận, địa vị con người của cá nhân trong nhà nước, thì quyền con người ở đây được biểu hiện ra như một quan hệ xã hội, quan hệ giữa con người với xã hội (tức là con người được hiểu là một thực thể xã hội) với môi trường xã hội (bao gồm cả lịch sử, văn hóa, các quan hệ dân tộc, tôn giáo, quốc gia, nhân loại. Trong mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, quyền con người bao hàm cả những quyền tự nhiên được xác định khi họ sinh ra và theo họ trong suốt cuộc đời (quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do.

Các quyền đó đóng vai trò "là cơ sở để xác định tính điều chỉnh, tự định đoạt của con người, khả năng độc lập của con người trong việc giải quyết các nhu cầu cá nhân" [60, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ