Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH VỀ TRẬT TỰ XÃ HỘI TRONG QUẢN LÝ CƯ TRÚ 1. Khái niệm chung. Khái niệm về cư trú. Theo Giản yếu Hán - Việt từ điển giải thích: “Cư trú là ở tại một chỗ nào trong một thời gian dài”[1,tr.
Trong lịch sử, vấn đề cư trú đã được chế độ phong kiến quan tâm nhằm phục vụ cho chính sách bình định, đánh thuế, di dân và đi lính. Công dân khi đi ra khỏi địa bàn nơi họ sinh sống thường xuyên phải khai báo với chính quyền. Nghĩa của từ cư trú qua các giai đoạn gắn với sự đa dạng trong hoạt động ở, nghỉ, đi lại của công dân và trong góc độ pháp luật đã dẫn đến sự đa dạng trong cách hiểu. Cư trú theo nghĩa của Đại từ điển Tiếng Việt xác định là:“sự hiện diện của cá nhân tại một số nơi ở”[46, tr.
Một người có thể cư trú ở hai hoặc nhiều nơi, như trong một thành phố và người ở trong nước, nhưng chỉ có một nơi cư trú mang tính ổn định. Cư trú có nghĩa là sống tại một địa phương cụ thể, nơi cư trú sinh sống tại địa phương đó với ý định cố định và lâu dài. Tự do cư trú, đi lại là một trong những quyền cơ bản của công dân được khẳng định tại Điều 23 Hiến pháp Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013: "Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú trong cả nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định"[40, tr.
Như vậy, quyền cư trú của công dân là một trong những quyền cơ bản được pháp luật bảo vệ. Công dân có quyền sống, làm việc, cư trú trên lãnh thổ Việt Nam. Điều 1 Luật Cư trú 2006 quy định: 8 “Cư trú là việc công dân sinh sống tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn dưới hình thức thường trú hoặc tạm trú”. Cư trú của công dân được xác định tại từng vị trí theo địa giới hành chính phường, xã, thị trấn bằng hai hình thức đăng ký thường trú hoặc đăng ký tạm trú với cơ quan Công an.
Công dân có quyền tự do cư trú theo quy định của Luật Cư trú và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Công dân có đủ điều kiện đăng ký thường trú, tạm trú thì có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký thường trú, tạm trú. Tuy nhiên, quyền tự do cư trú của công dân chỉ bị hạn chế theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Để đảm bảo thực hiện quyền cư trú của công dân, Nhà nước thực hiện nhiều biện pháp khác nhau như bảo đảm quyền tự do cư trú của công dân.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân xâm phạm quyền tự do cư trú của công dân phải bị xử lý nghiêm minh. Mặt khác, nhà nước có chính sách và biện pháp đồng bộ để bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền tự do cư trú của công dân. Đồng thời, nhà nước bảo đảm ngân sách, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực, đầu tư phát triển công nghệ, kỹ thuật tiên tiến cho hoạt động đăng ký về cư trú. Như vậy, có thể hiểu: Cư trú là việc công dân sinh sống tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn, huyện đảo nơi không tổ chức đơn vị hành chính cấp xã dưới hình thức thường trú hoặc tạm trú có đăng ký với cơ quan có chức năng quản lý cư trú.
Khái niệm quản lý cư trú của lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội. Ở nước ta, quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực thi ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Theo cơ chế đó, quyền lập pháp được trao 9 cho một cơ quan duy nhất thực hiện là Quốc hội. Ngoài chức năng chủ yếu là lập pháp, quyền hành pháp được trao cho Chính phủ và bộ máy hành chính địa phương thực hiện bao gồm quyền lập quy và điều hành hành chính, quyền tư pháp được trao cho hệ thống Viện Kiểm sát nhân dân các cấp và hệ thống Tòa án nhân dân các cấp thực hiện.
Quản lý nhà nước là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người phục vụ đảm bảo ANTT và phát triển đất nước. Quản lý nhà nước có nội dung và đối tượng điều chỉnh rất rộng, liên quan đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, như về kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, thông tin, truyền thông, đối ngoại, quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội,. trong đó, quản lý cư trú là một bộ phận của quản lý nhà nước về an ninh, trật tự. Để quản lý xã hội, Nhà nước quản lý nhiều đối tượng khác nhau, trong đó con người là đối tượng cần chú ý nhất.
Để quản lý con người, nhà nước thực hiện các nội dung, biện pháp khác nhau trong đó có quản lý cư trú. Nhà nước giao cho Bộ Công an thực hiện chức năng quản lý cư trú và lực lượng Cảnh sát QLHC về TTXH được giao nhiệm vụ trực tiếp tiến hành quản lý toàn diện hoạt động cư trú của công dân. Hiện nay, các lực lượng Cảnh sát QLHC về TTXH chuyên môn thực hiện nhiệm vụ quản lý cư trú bao gồm: Cảnh sát QLHC về TTXH ở cấp quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Cảnh sát đăng ký, quản lý dữ liệu quốc gia về dân cư; CSKV tại các địa bàn có bố trí Công an chính quy. Quản lý cư trú là quá trình các lực lượng chức năng dựa vào các quy định của pháp luật để tổ chức hoạt động đăng ký, thực hiện công tác quản lý đối với hoạt động cư trú của công dân nhằm phục vụ hoạt động quản lý xã hội của nhà nước, bảo vệ vững chắc quốc phòng, an ninh, đảm bảo việc thực hiện nghiêm quyền và nghĩa vụ của công dân.
Quản lý cư trú gồm hai bước lớn là tổ chức đăng ký và tiến hành việc 10 quản lý các nội dung có liên quan. Các nội dung cụ thể để thực hiện hoạt động đăng ký, quản lý thường trú, tạm trú, lưu trú, tạm vắng. Để thực hiện tốt các nội dung đó, lực lượng Cảnh sát QLHC về TTXH thực hiện công tác điều tra nghiên cứu nắm tình hình về hoạt động cư trú; trực tiếp hoặc phối hợp tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân thực hiện các quy định về cư trú; tổ chức tiếp nhận, giải quyết các hồ sơ đăng ký thường trú, tạm trú, khai báo tạm vắng, thông báo lưu trú, điều chỉnh, bổ sung thông tin, hay hồ sơ quản lý cư trú; sử dụng công tác nghiệp vụ cơ bản; kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính trong quá trình công dân cư trú, kinh doanh cho thuê lưu trú trên địa bàn được phân công phụ trách, tiến hành việc phối hợp, hợp tác quốc tế trong quản lý cư trú,… Trong quá trình thực hiện quản lý cư trú, lực lượng Cảnh sát QLHC về TTXH căn cứ vào các quy định của pháp luật, các quy định của ngành Công an. Thực hiện quản lý cư trú của lực lượng Cảnh sát QLHC về TTXH với nhiều mục đích khác nhau như thực hiện quản lý xã hội cho Nhà nước, phòng ngừa đấu tranh chống tội phạm và đảm bảo cho công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo pháp luật quy định.
Như vậy, có thể hiểu: “Quản lý cư trú của Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội là quá trình các chủ thể theo phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao tiến hành đăng ký, quản lý hoạt động thường trú, tạm trú, tổ chức tiếp nhận, quản lý lưu trú và tạm vắng đối với công dân Việt Nam tại các phường, thị trấn hoặc huyện đảo nơi chưa tổ chức đơn vị hành chính cấp xã nhằm phục vụ công tác quản lý dân cư của Nhà nước, góp phần phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác, đảm bảo việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân[30, tr. Khái niệm về vai trò của lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội trong quản lý cư trú Vai trò thường là từ chỉ tính chất của sự vật, sự việc, hiện tượng, dùng 11 để nói về vị trí chức năng, nhiệm vụ, mục đích của sự vật, sự việc, hiện tượng trong một hoàn cảnh, bối cảnh và mối quan hệ nào đó. Ví dụ : Vai trò của Đảng đối với sự phát triển đất nước, vai trò của tác phẩm văn học nào đó đối với sự nghiệp sáng tác văn học của tác giả, vai trò của từ đối với câu. Vai trò của lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội trong quản lý cư trú là vị trí, chức năng, nhiệm vụ tầm quan trọng của lực lượng Cảnh sát QLHC về TTXH đối với hoạt động quản lý cư trú của công dân nhằm thực hiện các mục đích về quản lý cư trú trong khuôn khổ quy định của pháp luật nói chung, pháp luật về cư trú nói riêng.
Chức năng, nhiệm vụ của lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội trong quản lý cư trú 1. Điều tra nghiên cứu, nắm tình hình về đối tượng quản lý cư trú và các vấn đề có liên quan Tập trung đi sâu nắm vững những vấn đề cơ bản về từng hộ gia đình và từng người từ đủ 14 tuổi trở lên. Lực lượng trực tiếp tiến hành đăng ký, quản lý thường trú phải có kế hoạch thường xuyên đi sâu điều tra nghiên cứu nắm vững tình hình, các thông tin, tài liệu về từng người dân ở từng địa bàn. Cần nắm vững tổng số, tình hình đặc điểm, tính chất, sự di biến động và những vấn đề thay đổi về nơi cư trú của từng người trong hộ gia đình đó, số hộ gia đình đã đăng ký thường trú và số đang có mặt trên địa bàn nhưng chưa được đăng ký thường trú, lý do và các biện pháp đã áp dụng giải quyết đối với từng trường hợp.