Phát huy vai trò của lực lượng CAND trong đảm bảo an ninh quốc gia ở Việt Nam

Luận án tiến sĩ phân tích vai trò của lực lượng CAND trong việc đảm bảo an ninh quốc gia tại Việt Nam hiện nay, nhấn mạnh yếu tố chủ quan.

Chuyên ngành

CNDVBC&DVLS

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

159
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Vai trò của lực lượng CAND trong an ninh quốc gia

Lực lượng CAND (Công an Nhân dân) đóng vai trò nòng cốt trong việc bảo vệ an ninh quốc gia tại Việt Nam. Nhiệm vụ của lực lượng này không chỉ là duy trì trật tự xã hội mà còn là bảo vệ quyền lợi công dânbảo vệ an ninh trước các mối đe dọa từ bên ngoài và bên trong. Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước, việc tăng cường quốc phòngan ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Lực lượng CAND phải luôn sẵn sàng ứng phó với các tình huống khẩn cấp, từ đó đảm bảo sự ổn định cho đất nước. Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, lực lượng CAND cần phải nâng cao năng lực, kỹ năng và kiến thức để đối phó với các loại tội phạm mới, như tội phạm mạng và tội phạm xuyên quốc gia.

1.1. Bảo vệ an ninh nội địa

Lực lượng CAND có trách nhiệm chính trong việc đảm bảo an ninh nội địa. Điều này bao gồm việc phát hiện và ngăn chặn các hoạt động chống phá từ các thế lực thù địch, cũng như các hành vi chống đối chính quyền. Để thực hiện nhiệm vụ này, lực lượng CAND cần phải có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan khác trong hệ thống chính trị, từ đó tạo ra một mạng lưới bảo vệ an ninh vững chắc. Việc thực thi pháp luậtđảm bảo trật tự xã hội là những yếu tố quan trọng trong công tác này. Lực lượng CAND cũng cần phải thường xuyên tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giáo dục pháp luật để nâng cao nhận thức của người dân về an ninh quốc gia.

1.2. Đảm bảo trật tự xã hội

Một trong những nhiệm vụ quan trọng của lực lượng CAND là đảm bảo trật tự xã hội. Điều này không chỉ bao gồm việc ngăn chặn và xử lý các hành vi phạm tội, mà còn là việc duy trì trật tự công cộng. Lực lượng CAND cần phải có mặt thường xuyên tại các khu vực công cộng, tổ chức các hoạt động tuần tra, kiểm soát để phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm. Việc phòng chống tội phạmđảm bảo an toàn cho người dân là những nhiệm vụ hàng đầu của lực lượng CAND. Để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ này, lực lượng CAND cần phải có sự hỗ trợ từ cộng đồng, từ đó tạo ra một môi trường an toàn và ổn định cho mọi người.

II. Thực trạng và thách thức

Hiện nay, lực lượng CAND đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc đảm bảo an ninh quốc gia. Sự gia tăng của các loại tội phạm mới, đặc biệt là tội phạm công nghệ cao, đã đặt ra yêu cầu cao hơn về năng lực và kỹ năng cho lực lượng này. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch cũng gia tăng hoạt động diễn biến hòa bình, gây ra nhiều khó khăn cho công tác bảo vệ an ninh. Để đối phó với những thách thức này, lực lượng CAND cần phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ và khả năng ứng phó với các tình huống khẩn cấp. Việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực an ninh cũng cần được chú trọng, nhằm chia sẻ thông tin và kinh nghiệm trong việc đấu tranh với các loại tội phạm xuyên quốc gia.

2.1. Thực trạng công tác bảo vệ an ninh

Thực trạng công tác bảo vệ an ninh hiện nay cho thấy lực lượng CAND đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong việc ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế trong công tác này, đặc biệt là trong việc phát hiện và xử lý kịp thời các loại tội phạm mới. Sự phối hợp giữa các đơn vị trong lực lượng CAND và các cơ quan khác còn chưa thật sự chặt chẽ, dẫn đến việc chưa phát huy hết hiệu quả trong công tác bảo vệ an ninh. Để khắc phục tình trạng này, cần có sự đầu tư mạnh mẽ vào công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, chiến sĩ, nhằm nâng cao năng lực và kỹ năng cho lực lượng CAND.

2.2. Thách thức trong công tác đảm bảo an ninh

Các thách thức trong công tác đảm bảo an ninh hiện nay rất đa dạng và phức tạp. Sự gia tăng của các loại tội phạm mới, đặc biệt là tội phạm công nghệ cao, đã đặt ra yêu cầu cao hơn về năng lực và kỹ năng cho lực lượng CAND. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch cũng gia tăng hoạt động diễn biến hòa bình, gây ra nhiều khó khăn cho công tác bảo vệ an ninh. Để đối phó với những thách thức này, lực lượng CAND cần phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ và khả năng ứng phó với các tình huống khẩn cấp.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác

Để nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ an ninh quốc gia, lực lượng CAND cần thực hiện một số giải pháp cơ bản. Trước hết, cần tăng cường công tác đào tạobồi dưỡng cán bộ, chiến sĩ, nhằm nâng cao năng lực và kỹ năng cho lực lượng này. Thứ hai, cần đẩy mạnh công tác hợp tác quốc tế trong lĩnh vực an ninh, nhằm chia sẻ thông tin và kinh nghiệm trong việc đấu tranh với các loại tội phạm xuyên quốc gia. Cuối cùng, cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho người dân, nhằm nâng cao nhận thức về an ninh quốc gia và vai trò của lực lượng CAND trong việc bảo vệ an ninh.

3.1. Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ

Công tác đào tạobồi dưỡng cán bộ, chiến sĩ là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ an ninh. Lực lượng CAND cần phải thường xuyên tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, cũng như các kỹ năng cần thiết để đối phó với các loại tội phạm mới. Việc nâng cao trình độ chuyên môn sẽ giúp lực lượng CAND có khả năng phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật, từ đó đảm bảo an ninh quốc gia một cách hiệu quả hơn.

3.2. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực an ninh

Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực an ninh là một giải pháp cần thiết để nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ an ninh quốc gia. Lực lượng CAND cần chủ động tham gia vào các diễn đàn, tổ chức quốc tế về an ninh, nhằm chia sẻ thông tin và kinh nghiệm trong việc đấu tranh với các loại tội phạm xuyên quốc gia. Việc tăng cường hợp tác quốc tế sẽ giúp lực lượng CAND có thêm nguồn lực và kinh nghiệm trong công tác bảo vệ an ninh, từ đó nâng cao hiệu quả công tác này.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề sự tác động qua lại giữa các hệ thống quản lý và các hệ thống bị quản lý trong xã hội có liên quan mật thiết đến vấn đề chủ thể - khách thể, nhân tố chủ quan và điều kiện khách quan, trên cơ sở đó, tác giả đưa ra quan điểm về điều kiện khách quan, nhân tố chủ quan gắn liền với sự phát triển xã hội. Theo tác giả, những điều kiện khách quan không phụ thuộc vào ý chí của các tập đoàn, đảng phái, giai cấp. Đó là tiêu chuẩn làm cho phạm trù “điều kiện khách quan” khác với phạm trù “nhân tố chủ quan”. Nhân tố chủ quan của sự phát triển xã hội là hoạt động có ý thức, có tổ chức của mọi người nhằm giải quyết những nhiệm vụ lịch sử nhất định và đạt tới những mục tiêu nhất định.

Do đó, nhân tố chủ quan của quản lý có một cơ cấu tổ chức phức tạp gồm các chính đảng, Nhà nước và hệ thống cơ quan chu ên ngành của Nhà nước, các tổ chức xã hội, những người hoạt động trong tổ chức chính trị, Nhà nước, xã hội để đề xuất và thông qua cùng tổ chức thi hành các nghị quyết quản lý. Hạt nhân của nhân tố nà là Đảng. Đảng chịu trách nhiệm cơ bản trong việc lãnh đạo toàn bộ hệ thống xã hội cũng như từng khâu của hệ thống này. Trong bài viết Vai trò của nhân tố chủ quan trong sự thống nhất ba lợi ích [79], tác giả Nguyễn Chí Mỳ đã chứng minh rằng, loài người bao giờ cũng hoạt động theo những lợi ích nhất định.

Trong quá trình hoạt động đó, con người tạo ra hàng chuỗi những sự kiện tất yếu khách quan làm tha đổi tồn tại xã hội. Chính vì vậy, họ tạo ra những điều kiện thuận lợi, cơ sở để xây dựng thành công CNXH. Qua đó, tác giả đưa ra êu cầu phải có sự thống nhất ba lợi ích (Cá nhân - Tập thể - Xã hội) và để thực hiện được điều đó phải phát huy vai trò nhân tố chủ quan trong việc thống nhất ba lợi ích thành động lực mạnh mẽ để phát triển XHCN. Tác giả Trần Bảo trong bài viết Về những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong xây dựng chủ nghĩa xã hội; những yếu tố cơ bản làm tăng cường chất lượng của nhân tố chủ quan trong xây dựng CNXH [18] đã đưa ra những nghiên cứu về phương pháp và tiêu chuẩn để phân biệt những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong đời sống xã hội, phân cấp độ, trình độ 12 luan an khác nhau của điều kiện khách quan đến hoạt động của chủ thể để từ đó chủ thể chủ động tiến hành hoạt động đạt kết quả để tránh những sai lầm và trên cơ sở đó phát hu cao độ nhất sức mạnh của nhân tố chủ quan.

Trong công trình này, tác giả cũng chỉ ra nhân tố chủ quan và xây dựng chủ nghĩa xã hội là toàn bộ hoạt động của chủ thể xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chủ thể xây dựng chủ nghĩa xã hội là Đảng Cộng sản, nhà nước và quần chúng nhân dân lao động. Vì vậy, nhân tố chủ quan ở đâ là toàn bộ hoạt động của Đảng Cộng sản, nhà nước và quần chúng nhân dân lao động. Toàn bộ những hoạt động nà đều nhằm thực hiện một mục đích thống nhất là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.

Theo tác giả, những hoạt động này có những chức năng và tính chất khác nhau tương ứng với mỗi bộ phận cụ thể của chủ thể. Để phát huy cao nhất tính tích cực sáng tạo của nhân tố chủ quan trong xây dụng chủ nghĩa xã hội, tác giả chỉ ra những vấn đề phức tạp cần tập trung giải quyết, đó là, thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong việc nâng cao năng lực nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan để phát huy tích cực sáng tạo của nhân tố chủ quan; thứ hai, lợi ích vật chất bộ phận quan trọng nhất trong cơ chế tác động của các quy luật khách quan, yếu tố cơ bản kích thích hoạt động sáng tạo của nhân tố chủ quan. Tác giả Trần Thành trong bài viết Vai trò của nhân tố chủ quan trong việc định hướng xã hội chủ nghĩa sự phát triển nền kinh tế ở nước ta hiện nay [96] đã đề cập tới vấn đề phải tiếp tục phát huy vai trò nhân tố chủ quan, trước hết là vai trò lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Nhà nước để tạo ra sự đồng thuận xã hội và có những căn cứ, việc làm, bước đi cụ thể nhằm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Và để làm đúng điều đó, tác giả chỉ ra rằng, cần phải có niềm tin vững chắc trên tinh thần thật sự khoa học về mô hình kinh tế nà ; nâng cao năng lực lãnh đạo kinh tế của các tổ chức Đảng; tiếp tục đổi mới, nâng cao vai trò và hiện thực quản lý kinh tế của Nhà nước, bảo đảm thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

13 luan an Ngoài các công trình trên, đã có một số luận án tiến sĩ đề cập đến vấn đề nhân tố chủ quan nói chung. Tác giả Lê Hữu Xanh, trong Luận án tiến sĩ Nâng cao vai trò nhân tố chủ quan trong việc xây dụng đội ngũ cán bộ Đảng viên ở nông thôn nước ta hiện nay [113], đã khẳng định, vấn đề vai trò nhân tố chủ quan liên quan trực tiếp đến yếu tố con người. Trong công trình này, tác giả đi sâu vào phân tích và đưa ra những nguyên tắc và giải pháp phát huy vai trò NTCQ trong xây dựng đội ngũ cán bộ Đảng viên ở nông thôn [113, Tr. Trong đó, tác giả tập trung vào các giải pháp, như: (a) làm sáng tỏ quan điểm lý luận về đổi mới và phát triển kinh tế-xã hội nông thôn theo định hướng XHCN; trên cơ sở đó, tác giả cho rằng, cần quán triệt trong đội ngũ cán bộ đảng viên các quan điểm, chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về đổi mới kinh tế nông thôn.

(b) Tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị, đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng của các tổ chức Đảng cơ sở nông thôn. (c) Đổi mới cơ chế, chính sách phát triển kinh tế - xã hội nông thôn và nâng cao trình độ dân trí chung của nông dân. (d) Tạo điều kiện khai thác và phát huy mặt tích cực trong các quan hệ xã hội nông thôn [113, Tr. Luận án Tiến sĩ Tác động của các điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan đối với quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở Việt Nam của tác giả Dương Thị Liễu [64] đã đưa ra định nghĩa về nhân tố chủ quan: “Nhân tố chủ quan là toàn bộ hoạt động của chủ thể (hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn) nhằm thực hiện mục đích của mình và những thuộc tính, phẩm chất, trạng thái của chủ thể được biểu hiện (định hướng) trong hoạt động đó” [68, tr.

Tuy nhiên, khi phân tích nội dung phát huy vai trò NTCQ trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, tác giả lại chưa làm rõ khái niệm phát huy vai trò NTCQ trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường là như thế nào [68, tr. Trong Luận án tiến sĩ Mối quan hệ giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong phát triển lý tưởng XHCN ở thanh niên quân đội Nhân dân Việt Nam hiện nay [102] tác giả Nguyễn Đức Tiến cho rằng, NTCQ là trình độ về 14 luan an mọi mặt của thanh niên quân đội, tác giả nhận định sự phát triển lý tưởng XHCN là kết quả của tác động biện chứng giữa điều kiện khách quan (môi trường sống và hoạt động của thanh niên quân đội) và NTCQ [102, tr. Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận và thực trạng mối quan hệ giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong phát triển lý tưởng xã hội chủ nghĩa ở thanh niên quân đội Nhân dân Việt Nam, tác giả đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả phát triển lý tưởng XHCN ở thanh niên quân đội: (1) Xây dựng môi trường lành mạnh, ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực ảnh hưởng đến thanh niên quân đội. (2) Nâng cao chất lượng giáo dục và tự giáo dục chính trị, tư tưởng.

(3) Kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng hệ thống giá trị với giáo dục định hướng giá trị cho thanh niên quân đội [102, tr. Tác giả Phạm Ngọc Minh trong công trình Về nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan, một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở nước ta hiện nay [83] đã tập trung nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan trong thời kỳ cả nước tiến lên CNXH [83, tr. 43-76] và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của nhân tố chủ quan ở nước ta như nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, vai trò của nhân dân [83, tr. Cũng ở nghiên cứu này, khi trình bày kết luận về mối quan hệ biện chứng giữa điều kiện khách quan và NTCQ, tác giả đã đưa ra sơ đồ thể hiện mối quan hệ này trong khuôn khổ hoạt động của con người.

Sơ đồ đó giúp chúng ta thấy mối quan hệ phụ thuộc qua lại lẫn nhau giữa chủ thể - khách thể, cái chủ quan – cái khách quan, nhân tố chủ quan – nhân tố khách quan, cũng như tác động giữa tất cả các yếu tố này trong vòng tuần hoàn hoạt động của con người [83, tr. Tác giả Nguyễn Tiến Thủ trong Luận án tiến sĩ Biện chứng giữa chủ thể và Khách thể nhận thức với việc phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên Việt Nam hiện nay [98]. Cho rằng, giải quyết mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể thực chất là giải quyết mặt thứ hai của vấn đề cơ bản của triết học; là để trả lời cho câu hỏi con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? [98, tr. Trên cơ sở lý luận của triết học Mác-Lênin về mối 15 luan an quan hệ chủ thể, khách thể, luận án bàn về vai trò, vị trí chủ thể của sinh viên trong học tập, nghiên cứu khoa học [98, tr.

Tuy luận án không đề cập trực tiếp đến NTCQ và vai trò NTCQ, nhưng những nghiên cứu của tác giả là nguồn tài liệu quý báu để chúng tôi tham khảo trong nghiên cứu quan điểm triết học Mác-Lênin về lý luận nhận thức và vận dụng nó trong nghiên cứu của mình.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Phát huy vai trò của lực lượng CAND trong đảm bảo an ninh quốc gia ở Việt Nam" của Đỗ Thị Bích Thảo, dưới sự hướng dẫn của PGS. Phạm Xuân Phúc, tập trung vào việc khẳng định vai trò quan trọng của lực lượng Công an Nhân dân (CAND) trong việc bảo vệ an ninh quốc gia. Tác giả phân tích các yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của lực lượng này, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả công tác của CAND trong bối cảnh hiện nay. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò của CAND mà còn giúp độc giả hiểu rõ hơn về những thách thức và cơ hội trong việc đảm bảo an ninh quốc gia.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo bài viết Luận Văn Đánh Giá Cán Bộ Công Chức: Phân Tích Lý Luận và Thực Tiễn, nơi phân tích các khía cạnh lý luận và thực tiễn trong công tác cán bộ, có liên quan đến việc nâng cao chất lượng nhân lực trong các cơ quan nhà nước. Ngoài ra, bài viết Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ trong các đơn vị hành chính sự nghiệp tại Hà Nội cũng đề cập đến việc cải thiện chất lượng hoạt động của các tổ chức chính trị, từ đó góp phần vào việc đảm bảo an ninh quốc gia. Cuối cùng, bài viết Năng lực của đại biểu Hội đồng Nhân dân tỉnh Hà Tĩnh trong việc thực hiện chức năng quyết định sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của các cơ quan dân cử trong việc thực hiện chính sách và quyết định liên quan đến an ninh quốc gia.