phần mở đầu gồm có 3 chương, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, và phần phụ lục. 9 z Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÕ CỦA HỘI NÔNG DÂN TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN 1. Hội nông dân và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn 1. Những vấn đề chung về giai cấp nông dân và Hội nông dân Việt Nam 1.
Quan niệm về giai cấp nông dân *. Khái niệm về giai cấp nông dân Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, nông dân hay những người “tiểu nông” là “một khối quần chúng đông đảo mà tất cả các thành viên đều sống trong một hoàn cảnh như nhau nhưng lại không nằm trong mối quan hệ nhiều mặt đối với nhau. Phương thức sản xuất của họ không làm cho họ liên hệ với nhau mà lại làm cho họ cô lập với nhau”[27, tr. Lênin cũng đưa ra quan niệm về giai cấp nông dân (tiểu nông) “người tiểu nông tức là những dân cày, ít ruộng, có riêng hay lĩnh canh được những mảnh đất nhỏ, khiến khi họ cày cấy để cung cấp cho nhu cầu gia đình và nhu cầu sản xuất của họ, họ không phải thuê nhân công bên ngoài”[25, tr.
Hồ Chí Minh quan niệm: Giai cấp nông dân là cộng đồng những người lao động, nhân tố chủ yếu của lực lượng sản xuất và là những người tư hữu nhỏ. Người khẳng định: “Nước ta là nước nông nghiệp, hơn 9/10 dân ta là nông dân. Hơn 9/10 nông dân là trung, bần và cố nông”[32, tr. Trong Từ điển “Chủ nghĩa cộng sản khoa học”, khái niệm giai cấp nông dân cũng được khái quát như sau: “Nông dân là một giai cấp chuyên sản xuất những sản phẩm nông nghiệp trên cơ sở sở hữu tư nhân hoặc sở hữu hợp tác xã về tư liệu sản xuất và tham gia sản xuất bằng lao động của chính mình”[42, tr.
10 z Từ khi đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới, cùng với sự vận động phát triển của đất nước, cơ cấu xã hội - giai cấp nói chung và giai cấp nông dân Việt Nam nói riêng đang diễn ra rất phức tạp. Theo Phó giáo sư, Tiến sĩ Trương Thị Tiến: “Giai cấp nông dân Việt Nam gồm nông dân nhận ruộng khoán của các doanh nghiệp nông nghiệp Nhà nước, hộ nông dân trong các hợp tác xã nông nghiệp đã chuyển đổi và hộ nông dân cá thể” [41, tr. Tiến sĩ Đỗ Ngọc Sơn quan niệm: “Giai cấp nông dân Việt Nam là cộng đồng những người lao động, mà hoạt động của họ gắn liền với sản xuất nông nghiệp ở trình độ sản xuất nhỏ là phổ biến dưới hình thức hộ gia đình, dựa trên cơ sở sở hữu tư nhân, hoặc sở hữu hợp tác xã về tư liệu sản xuất”[38, tr. Từ những vấn đề trên có thể khẳng định: Giai cấp nông dân Việt Nam là một lực lượng xã hội to lớn, địa bàn cư trú của họ ở nông thôn, gồm những người lao động sản xuất trên lĩnh vực nông nghiệp trong khu vực kinh tế hợp tác và kinh tế cá thể, tiểu chủ.
Vai trò của giai cấp nông dân Từ quan niệm về giai cấp nông dân, với phương pháp luận khoa học C.Lênin đã nhận thấy rõ vai trò to lớn của nông dân trong sự phát triển của xã hội cũng như trong các cuộc đấu tranh cách mạng. Ở mọi quốc gia “người nông dân đều là một nhân tố rất cơ bản của dân cư, của nền sản xuất và của lực lượng chính trị” [29, tr. Giai cấp nông dân là lực lượng chủ yếu của khối liên minh công nhân - nông dân - trí thức, nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhân tố cơ bản bảo đảm thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa.Ăngghen đã chỉ rõ trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân không thể thắng lợi nếu không liên minh được với giai cấp nông dân. Tổng kết cuộc đấu tranh giai cấp ở Pháp (1848 - 1850), C.Mác đã viết: “Công nhân Pháp không thể tiến lên được một bước nào và cũng không thể đụng đến một sợi tóc nào của chế độ tư sản, trước khi đông đảo nhân dân đứng giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, tức là nông dân và giai cấp tiểu tư sản nổi dậy chống chế độ tư sản, chống sự thống trị của tư bản, chưa bị tiến trình của cách mạng buộc phải đi theo những người vô sản coi là đội tiên phong của mình”[28, tr.
11 z Phát triển những tư tưởng này V.Lênin đã khẳng định ý nghĩa chiến lược của vấn đề nông dân, Người chỉ rõ: “Nếu không liên minh với nông dân thì không thể có được chính quyền của giai cấp vô sản, không thể nghĩ được đến việc duy trì chính quyền đó”[26, tr. Theo Lênin, giai cấp nông dân dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân không chỉ quan trọng ở giai đoạn giành chính quyền mà còn có ý nghĩa to lớn trong quá trình giữ chính quyền, xây dựng xã hội mới. Khi giành được chính quyền, giai cấp vô sản phải thiết lập nền chuyên chính vô sản dựa trên nền tảng liên minh công nông, đây chính là điều cần và đủ cho sự vững mạng của chính quyền Xô viết.Lênin chỉ rõ: “Nguyên tắc tối cao nhất của chuyên chính vô sản là duy trì khối liên minh giữa giai cấp vô sản và nông dân để giai cấp vô sản có thể giữ được vai trò lãnh đạo chính quyền nhà nước”[26, tr. Sau nội chiến, V.Lênin đã thực hiện chính sách Kinh tế mới, trong đó chọn giải pháp “bắt đầu từ nông dân”, từ khôi phục nông nghiệp, từ cải thiện đời sống nông dân để ổn định tình hình đất nước, phát triển kinh tế - xã hội.
Nghiên cứu kế thừa và phát triển quan điểm về vai trò giai cấp nông dân của chủ nghĩa Mác N - Lênin và thông qua thực tiễn hoạt động cách mạng phong phú, Hồ Chí Minh là người đầu tiên nhìn thấy khả năng cách mạng to lớn của nông dân. Theo Người, nông dân Việt Nam rất yêu nước, họ là lực lượng đông đảo, hùng hậu trong dân tộc chống đế quốc, chống phong kiến, là bạn đồng minh chiến lược của giai cấp công nhân trong đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân. Người chỉ rõ: “Nông dân lao động là lực lượng rất to lớn của dân tộc, một đồng minh rất chắc chắn của giai cấp công nhân”[33, tr. Theo Hồ Chí Minh sức mạnh đoàn kết toàn dân - trong đó chủ yếu là nông dân - là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo.
Nếu giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản không lôi kéo được lực lượng cách mạng đông đảo nhất này trong dân tộc về phía mình thì không thể đưa cách mạng đi đến thành công: “Cách mạng muốn thành công thì phải lấy dân chúng (công nông) làm gốc”[32, tr. Khẳng định vai trò to lớn của nông dân, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “lực lượng của chúng ta là hàng chục triệu đồng bào nông dân lao động. Khéo tổ chức, khéo lãnh đạo, thì lực lượng ấy sẽ làm xoay trời, chuyển đất, bao nhiêu thực dân và phong kiến cũng sẽ bị lực lượng to lớn ấy đánh tan”[33, tr. Trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, theo Hồ Chí Minh nông dân là người trực tiếp thực hiện và cụ thể hoá đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, góp phần to lớn vào xây dựng cơ sở vật chất cho xã hội mới tốt đẹp.
Hồ Chí Minh viết: “Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp. Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc. Trong công cuộc xây dựng 12 z nước nhà Chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn. Nông dân ta giàu thì nước ta giàu.
Nông dân ta thịnh thì nước ta thịnh”[31, tr. Trong lĩnh vực kinh tế xã hội, nông dân là lực lượng xã hội đông đảo, trực tiếp thực hiện vai trò quan trọng trong nông nghiệp. Lao động nông thôn không chỉ là nguồn nhân lực chủ yếu và quyết định trong phát triển sản xuất và kinh tế nông thôn mà còn có đóng góp quan trọng trong các hoạt động kinh tế - xã hội khác của cả nước, nhất là trong việc cung cấp nguồn lao động cho công nghiệp, đô thị hóa. Cư dân nông thôn chiếm đa số dân cư cả nước, tạo nền tảng của xã hội và lực lượng chính trị của chế độ.
Vai trò quan trọng của của nông dân Việt Nam không chỉ được thể hiện trong phát triển kinh tế nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới mà còn trong toàn bộ tiến trình đổi mới, phát triển và hiện đại hóa xã hội Việt Nam nói chung, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay. Thực tiễn lịch sử cách mạng nước ta qua các giai đoạn dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chứng minh vai trò của giai cấp nông dân là vô cùng quan trọng. Hiện nay, nông dân vẫn là lực lượng đông đảo và giữ vai trò quan trọng, kề vai sát cánh cùng các giai tầng xã hội khác lập nên những kỳ tích thật đáng tự hào, góp phần quan trọng đưa nông nghiệp nước ta phát triển toàn diện, thúc đẩy đổi mới và thực hiện thắng lợi mục tiêu của sự nghiệp đổi mới đất nước. Hội nông dân Việt Nam *.
Khái quát quá trình hình thành và phát triển của Hội nông dân Việt Nam Hội nông dân Việt Nam được thành lập 10/1930 với tên gọi tiền thân là Tổng Nông hội Đông Dương. Hội được thành lập với mục đích ban đầu là “Thống nhất hết thảy Tổng Nông Hội Đông Dương để đấu tranh, bênh vực quyền lợi hàng ngày của nông dân và để thực hiện cách mạng thổ địa” Trong suốt thời kỳ đấu tranh giành độc lập của đất nước, Hội nông dân Việt Nam đã thay đổi nhiều tên gọi khác nhau cho phù hợp với từng nhiệm vụ, giai đoạn, hoàn cảnh cụ thể của đất nước. Trong đó có các tên như: 06/8/1949 lấy tên gọi là “Ban Nông vận Trung ương”; sau đó đến 07/12/1949 có tên gọi “Ban liên lạc nông dân toàn quốc” có nhiệm vụ vận động nông dân: tăng gia 13 z sản xuất, tự cấp tự túc, nuôi dưỡng bộ đội, xây dựng hợp tác xã, hoàn thành giảm tô, thực hiện giảm tức, đào tạo cán bộ và thanh toán nạn mùn chữ. Sau hơn 20 năm được thành lập, “Ban liên lạc nông dân toàn quốc” đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, góp phần không nhỏ vào sự nghiệp dành được độc lập dân tộc (1945) và công cuộc đánh thắng thực dân Pháp xâm lược (1954).