Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ triết học với đề tài "Vai trò của gia đình trong phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay" do nghiên cứu sinh Đặng Thị Minh Phương thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Linh Khiếu, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2018 (Chuyên ngành: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, Mã số: 62 22 03 02).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Nguồn nhân lực (NNL) là yếu tố quyết định việc khai thác, sử dụng, bảo vệ và tái tạo các nguồn lực khác trong nền kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế. Điểm đặc thù của nguồn nhân lực là không bị cạn kiệt nếu được phát hiện, bồi dưỡng, khai thác và sử dụng hợp lý. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định phát triển nguồn nhân lực (PTNNL) chất lượng cao là một trong ba đột phá chiến lược để thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020; quan điểm này tiếp tục được Đại hội XII khẳng định nhằm phát triển toàn diện con người về thể lực, tri thức, kỹ năng, hành vi và ý thức chính trị - xã hội.
Thực tế tại Việt Nam cho thấy NNL dồi dào về số lượng nhưng chất lượng thấp, thiếu hụt nhân lực chất lượng cao. Quá trình PTNNL đòi hỏi sự tham gia của toàn xã hội, trong đó thiết chế gia đình giữ vị trí cơ sở sinh học - xã hội đầu tiên. Gia đình vừa tái sản xuất ra con người, vừa trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cả thể chất lẫn tinh thần. Tuy nhiên, trước tác động của kinh tế thị trường, đô thị hóa, biến đổi lối sống và khó khăn về kinh tế, gia đình Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức: thu nhập chưa ổn định, nhận thức nuôi dạy con hạn chế, tỷ lệ ly hôn và bạo lực gia đình gia tăng. Những nghiên cứu trước đây thường tiếp cận gia đình hoặc nguồn nhân lực một cách riêng lẻ, hoặc chỉ giới hạn ở phạm vi một địa phương hẹp hay góc độ văn hóa đơn thuần. Luận án giải quyết khoảng trống nghiên cứu hệ thống về vai trò của gia đình đối với PTNNL dưới góc độ triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử trong thời kỳ đổi mới.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Làm rõ một số vấn đề lý luận về vai trò của gia đình trong PTNNL, đánh giá thực trạng và phân tích những vấn đề đặt ra, từ đó đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của gia đình trong PTNNL ở Việt Nam hiện nay.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về vai trò của gia đình trong PTNNL ở Việt Nam hiện nay;
- Đánh giá thực trạng thực hiện vai trò của gia đình trong PTNNL ở Việt Nam hiện nay và phân tích một số vấn đề đặt ra từ thực trạng đó;
- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của gia đình trong PTNNL ở Việt Nam hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của gia đình trong phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào ba vai trò cơ bản của gia đình: (1) Vai trò trong tái sản xuất ra con người; (2) Vai trò giáo dục của gia đình; (3) Vai trò kinh tế và tổ chức đời sống gia đình. Khảo cứu trên hai phương diện số lượng và chất lượng NNL. Chủ thể thực hiện là gia đình (chủ yếu là cha mẹ) và đối tượng thụ hưởng là con cái (chủ yếu dưới 18 tuổi) - giai đoạn đầu của quá trình PTNNL.
- Phạm vi không gian: Lãnh thổ Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Từ thời kỳ đổi mới (năm 1986) đến năm 2018.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước thành ba nhóm nội dung chính:
| Nhóm công trình |
Tác giả và tác phẩm tiêu biểu có trong văn bản |
Nội dung trọng tâm |
| 1. Nghiên cứu về gia đình và vai trò của gia đình |
Lê Thi (Gia đình Việt Nam ngày nay, Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới, Cuộc sống và biến động của hôn nhân, gia đình Việt Nam hiện nay); Đặng Cảnh Khanh & Lê Thị Quý (Gia đình học); Lê Thị Quý (Quản lý nhà nước về gia đình, lý luận và thực tiễn, đề tài cấp Nhà nước về xây dựng gia đình đến năm 2020); Trần Hữu Tòng & Trương Thìn (Xây dựng gia đình văn hóa trong sự nghiệp đổi mới); Nguyễn Hữu Minh (đề tài cấp Bộ về gia đình giai đoạn 2011 - 2020); Lê Ngọc Văn (Gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam); Tương Lai (Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam); Mai Huy Bích (Xã hội học gia đình); David H. Allen & Mark A. (Handbook of family diversity); Bert N. Adams & Jan Trost (Handbook of World Families); Bron B. Ingoldsby & Suzanna D. Smith (Families in Global and Multicultural Perspective). |
Phân tích biến đổi cấu trúc, quy mô, chức năng gia đình dưới tác động của đổi mới, CNH, HĐH và toàn cầu hóa; nhấn mạnh chức năng xã hội hóa trẻ em và xây dựng nhân cách. |
| 2. Nghiên cứu về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực |
Trần Văn Tùng & Lê Ái Lâm (Phát triển nguồn nhân lực kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta); Mai Quốc Chánh (Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước); Nguyễn Thanh (Phát triển nguồn nhân lực phục vụ CNH, HĐH đất nước); Nguyễn Hữu Dũng (Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam); Lê Thị Ái Lâm (Phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục - đào tạo - Kinh nghiệm Đông Á); Trương Thị Minh Sâm (Những luận cứ khoa học của việc phát triển nguồn nhân lực công nghiệp cho vùng kinh tế trọng điểm phía Nam); Phạm Thành Nghị & Vũ Hoàng Ngân (Quản lý nguồn nhân lực ở Việt Nam..., Nâng cao hiệu quả quản lý nguồn nhân lực...); Vũ Bá Thể (Phát huy nguồn lực con người để CNH, HĐH...); Đoàn Văn Khái (Nguồn lực con người trong quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam); Phạm Công Nhất (Giải pháp phát triển nguồn nhân lực Việt Nam sau 20 năm đổi mới); Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020); Vũ Văn Phúc & Nguyễn Duy Hùng (Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH và hội nhập quốc tế); Lương Đình Hải (đề tài cấp Bộ về NNL chất lượng cao); Stivastava (Human resource planing...); Richard A. Swanson & Elwood F. Holton III (Foundations of Human Resource Development); William J. Prescott & Maria W. Taylor (Chuyển hóa nguồn nhân lực); Neal Chalofsky, Tonette Rocco & Michael Lane Morris (Handbook of human resource development). |
Làm rõ khái niệm, thực trạng cơ cấu, quy mô và chất lượng NNL; kinh nghiệm quốc tế; vai trò của giáo dục - đào tạo và quản lý nhà nước đối với PTNNL. |
| 3. Nghiên cứu về vai trò của gia đình trong phát triển nguồn nhân lực |
Lê Thi (Vai trò của gia đình trong việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam); Lê Như Hoa (Văn hóa gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em); Hà Văn Tác (Vai trò của gia đình đối với sự phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH, HĐH ở thành phố Hồ Chí Minh); Hoàng Thị Lịch (Gia đình với việc phát triển nguồn nhân lực); Thân Hữu Dũng (Vai trò của gia đình trong phát triển nguồn nhân lực); Lê Thị Quý (Gia đình Việt Nam đương đại - Tư duy mới trong một xã hội đang biến đổi). |
Đề cập đến tác động của văn hóa gia đình đối với nhân cách trẻ em; sự cần thiết của chính sách nhà nước đối với gia đình; tiếp cận chỉ số HDI và vai trò của người phụ nữ trong nuôi dạy con. |
Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết:
Các công trình nhóm 1 và nhóm 2 chủ yếu phân tích độc lập về thiết chế gia đình hoặc bài toán phát triển nguồn nhân lực ở tầm vĩ mô (giáo dục, quản lý nhà nước). Các công trình nhóm 3 bước đầu tiếp cận mối quan hệ giữa gia đình và phát triển nhân lực nhưng dừng lại ở phạm vi địa bàn cụ thể (như công trình của Hà Văn Tác tại TP. Hồ Chí Minh) hoặc bài viết chuyên khảo ngắn theo góc độ văn hóa, xã hội học. Luận án của Đặng Thị Minh Phương lựa chọn tiếp cận toàn diện dưới góc độ triết học chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, phân tích mối quan hệ biện chứng giữa thiết chế gia đình và phát triển nguồn nhân lực trên phạm vi cả nước trong tiến trình đổi mới từ 1986 đến 2018.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử: Sử dụng các nguyên lý và quy luật duy vật lịch sử của C. Mác và Ph. Ăngghen. Điểm tựa lý luận then chốt là luận điểm trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức và Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước: sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp gồm hai loại — sản xuất ra tư liệu sinh hoạt (thực phẩm, quần áo, nhà ở, công cụ) và sản xuất ra bản thân con người (sự truyền nòi giống). Trật tự xã hội bị quy định bởi trình độ phát triển của lao động và trình độ phát triển của gia đình.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước: Quan điểm coi con người là trung tâm và mục tiêu phát triển; các nghị quyết Đại hội Đảng XI, XII; Luật Hôn nhân và Gia đình sửa đổi năm 2014; Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 (phê duyệt năm 2012); Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020.
- Khung lý thuyết chuyên ngành: Tiếp cận theo Lý thuyết hệ thống gia đình và Lý thuyết cấu trúc - chức năng, trong đó vai trò của gia đình đối với PTNNL được khảo sát qua việc thực hiện các chức năng cơ bản. Khái niệm NNL và PTNNL được tiếp cận theo nghĩa rộng, bao hàm cả số lượng và chất lượng (thể lực, trí lực, nhân cách).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án là công trình nghiên cứu định tính thuộc ngành Triết học, sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu lý luận và xã hội:
- Phương pháp lịch sử - lôgíc: Xem xét sự biến đổi của gia đình và nguồn nhân lực qua các giai đoạn phát triển lịch sử cụ thể từ mốc đổi mới năm 1986.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phân tích các bộ phận cấu thành vai trò gia đình, tổng hợp các chiều cạnh tác động đến NNL.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu giữa giáo dục gia đình truyền thống và hiện đại, so sánh các quan niệm học thuật.
- Phương pháp khái quát hóa và hệ thống hóa: Hệ thống hóa các luồng quan điểm, khái quát thực trạng và xây dựng các nhóm giải pháp đồng bộ.
- Nguồn tư liệu: Các văn kiện chính thức của Đảng, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo tổng kết của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê, kỷ yếu hội thảo và các công trình chuyên khảo trong và ngoài nước.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương này dành cho việc rà soát và đánh giá có hệ thống các công trình nghiên cứu liên quan:
- Phân tích 3 nhóm nghiên cứu: Nhóm công trình về gia đình và vai trò gia đình; nhóm công trình về NNL và PTNNL; nhóm công trình trực tiếp bàn về vai trò của gia đình trong PTNNL.
- Đánh giá chung: Khẳng định các nghiên cứu đi trước đã tạo lập nền tảng tư liệu và lý thuyết phong phú về cấu trúc gia đình và chiến lược nhân lực.
- Xác lập hướng nghiên cứu của luận án: Khẳng định sự cần thiết phải nghiên cứu vai trò của gia đình đối với PTNNL dưới góc độ triết học duy vật lịch sử trên cả ba phương diện: tái sản xuất con người, giáo dục đạo đức - nhân cách và kinh tế - tổ chức đời sống.
Chương 2: Một số vấn đề lý luận về vai trò của gia đình trong phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay
Chương 2 xây dựng khung lý luận của luận án qua ba nội dung chính:
- Quan niệm về gia đình, NNL và PTNNL:
- Gia đình: Là thiết chế xã hội đặc thù, hình thành, tồn tại và phát triển dựa trên các mối quan hệ cơ bản là quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng và giáo dục; gắn kết bởi tình cảm, trách nhiệm, nghĩa vụ, được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ.
- Nguồn nhân lực (theo nghĩa rộng): Tổng thể các yếu tố thuộc về số lượng và chất lượng con người với tổng hòa các tiêu chí về thể lực, trí lực và nhân cách, tạo nên năng lực được huy động vào quá trình sản xuất của cải vật chất và tinh thần.
- Phát triển nguồn nhân lực: Quá trình làm gia tăng hợp lý về số lượng, nâng cao về chất lượng (thể lực, trí lực, nhân cách), nâng cao hiệu quả sử dụng để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
- Nội dung vai trò của gia đình trong PTNNL: Cụ thể hóa qua ba chức năng cơ bản:
- Vai trò trong tái sản xuất ra con người: Tạo cơ sở tự nhiên, sinh học và quy mô dân số, quyết định số lượng và tố chất ban đầu của NNL.
- Vai trò giáo dục của gia đình: Là môi trường xã hội hóa đầu tiên, định hình nhân cách, đạo đức, lối sống, truyền thụ tri thức và kỹ năng sống cơ bản cho thế hệ trẻ dưới 18 tuổi.
- Vai trò kinh tế và tổ chức đời sống gia đình: Tạo cơ sở vật chất, nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe, bảo đảm điều kiện học tập và nghỉ ngơi để tái tạo sức lao động.
- Các nhân tố tác động: Phân tích tác động hai mặt từ: toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế; khoa học và công nghệ (Cách mạng công nghiệp 4.0); công nghiệp hóa, hiện đại hóa và kinh tế thị trường; yếu tố văn hóa truyền thống; chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Chương 3: Thực trạng thực hiện vai trò của gia đình trong phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay và một số vấn đề đặt ra
Chương 3 đi sâu đánh giá thực tiễn thực hiện vai trò của gia đình trong giai đoạn đổi mới:
- Thực trạng thực hiện các vai trò của gia đình:
- Tái sản xuất ra con người: Gia đình Việt Nam đóng góp duy trì mức sinh hợp lý, cơ cấu dân số vàng, tạo nguồn cung lao động dồi dào; tuy nhiên xuất hiện tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh và sự khác biệt mức sinh giữa các vùng miền.
- Giáo dục gia đình: Đã có sự đầu tư lớn hơn cho học tập của con cái, nâng cao dân trí; tuy nhiên phương pháp giáo dục còn lúng túng giữa truyền thống và hiện đại, có biểu hiện phó mặc cho nhà trường hoặc áp đặt quá mức.
- Kinh tế và tổ chức đời sống: Đời sống vật chất của nhiều gia đình được nâng lên, chi tiêu cho y tế và giáo dục tăng; song khoảng cách giàu nghèo gia tăng khiến điều kiện chăm sóc NNL ở các nhóm gia đình nông thôn, vùng sâu vùng xa còn nhiều thiệt thòi.
- Một số vấn đề đặt ra:
- Vấn đề nhận thức và thực hiện vai trò tái sản xuất ra con người của gia đình còn nhiều bất cập (tư tưởng trọng nam khinh nữ, mất cân bằng giới tính khi sinh).
- Mâu thuẫn giữa yêu cầu giáo dục đạo đức, nhân cách cho NNL ngày càng cao trong khi vai trò giáo dục của gia đình có biểu hiện suy giảm (sự xâm lấn của lối sống thực dụng, tệ nạn xã hội, gia đình thiếu thời gian kết nối).
- Yêu cầu nâng cao thể lực và trí lực cho NNL trong khi khả năng kinh tế và kỹ năng tổ chức đời sống của nhiều gia đình còn hạn chế.
Chương 4: Một số quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của gia đình trong phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay
Chương 4 đưa ra phương hướng và các biện pháp thực hiện:
- Hệ thống quan điểm chỉ đạo:
- Phát huy vai trò của gia đình trong PTNNL phải gắn với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia;
- Gắn với việc thực hiện Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030;
- Gắn với việc triển khai Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020.
- Bốn nhóm giải pháp chủ yếu:
- Nâng cao nhận thức về vai trò của gia đình trong PTNNL: Đẩy mạnh tuyên truyền cho các bậc cha mẹ và toàn xã hội về vị trí, trách nhiệm của gia đình trong việc chuẩn bị nhân lực cho đất nước.
- Tăng cường vai trò giáo dục của gia đình để nâng cao chất lượng NNL: Kết hợp chặt chẽ giáo dục gia đình với giáo dục nhà trường và xã hội; bồi dưỡng phương pháp giáo dục con cái hiện đại gắn với giữ gìn giá trị truyền thống tốt đẹp.
- Tạo lập những điều kiện vật chất thuận lợi cho việc phát huy vai trò của gia đình: Giải quyết việc làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội để gia đình có nguồn lực đầu tư cho con cái về thể chất và học vấn.
- Tăng cường vai trò của Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội: Hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách hỗ trợ gia đình (chăm sóc y tế, dinh dưỡng trẻ em, hỗ trợ học tập); phát huy vai trò của Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên trong công tác hỗ trợ gia đình xây dựng văn hóa gia đình lành mạnh.
Kết quả và những đóng góp mới
- Về mặt lý luận:
- Luận án hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận triết học mácxít về mối quan hệ giữa thiết chế gia đình và sự phát triển nguồn nhân lực.
- Làm rõ nội dung ba vai trò trụ cột của gia đình đối với PTNNL (tái sản xuất con người, giáo dục đạo đức - nhân cách, kinh tế - tổ chức đời sống) và phân tích các nhân tố tác động trong điều kiện kinh tế thị trường, cách mạng công nghệ và hội nhập quốc tế.
- Về mặt thực tiễn:
- Đánh giá thực trạng thực hiện vai trò của gia đình Việt Nam từ năm 1986 đến 2018 trên cả hai mặt tích cực và hạn chế.
- Chỉ ra ba mâu thuẫn cơ bản đang đặt ra đối với gia đình Việt Nam trong quá trình chuẩn bị thể lực, trí lực và nhân cách cho thế hệ lao động tương lai.
- Đề xuất ba quan điểm định hướng và bốn nhóm giải pháp có tính hệ thống nhằm phát huy vai trò của gia đình gắn liền với các chiến lược phát triển quốc gia.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung chủ yếu vào giai đoạn đầu của quá trình phát triển nguồn nhân lực (chủ thể là cha mẹ, đối tượng tác động là con cái dưới 18 tuổi). Dưới góc độ nghiên cứu chuyên ngành Triết học (CNDVBC & CNDVLS), luận án tập trung phân tích lý luận, khái quát hóa văn bản và số liệu thứ cấp, chưa tiến hành điều tra xã hội học định lượng diện rộng có can thiệp thực nghiệm.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Có thể mở rộng khảo sát vai trò của gia đình đối với nguồn nhân lực ở các giai đoạn tiếp theo (giai đoạn tham gia thị trường lao động, học tập suốt đời, người lao động trưởng thành) hoặc triển khai các nghiên cứu liên ngành xã hội học, kinh tế học lao động để đo lường định lượng mức độ đóng góp kinh tế của gia đình cho giáo dục và y tế.
Giá trị tham khảo
- Đối với giảng dạy và nghiên cứu: Là tài liệu tham khảo cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học các ngành Triết học, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Xã hội học, Gia đình học và Quản lý nguồn nhân lực khi nghiên cứu về thiết chế gia đình và chính sách phát triển con người.
- Đối với công tác hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho các cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, trẻ em và lao động (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam) trong việc xây dựng các chính sách an sinh xã hội, giáo dục gia đình và phát triển nhân lực.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định vai trò của gia đình trong PTNNL gồm những nội dung cơ bản nào?
Luận án xác định vai trò của gia đình trong PTNNL được thực hiện qua ba nội dung cơ bản:
- Vai trò trong tái sản xuất ra con người (tạo cơ sở sinh học, quy mô và thể lực ban đầu);
- Vai trò giáo dục của gia đình (định hình đạo đức, nhân cách, kỹ năng và tri thức nền tảng);
- Vai trò kinh tế và tổ chức đời sống gia đình (bảo đảm dinh dưỡng, điều kiện vật chất, chăm sóc sức khỏe và tái tạo sức lao động).
2. Đối tượng thụ hưởng chính trong phạm vi nghiên cứu của luận án là ai?
Chủ thể thực hiện vai trò trong luận án là gia đình (chủ yếu là cha mẹ) và đối tượng cần được phát huy là con cái (chủ yếu dưới 18 tuổi) với tư cách là nguồn nhân lực tương lai sẽ bổ sung cho xã hội. Do đó, luận án tập trung vào giai đoạn đầu của quá trình PTNNL.
3. Những nhân tố nào tác động đến việc thực hiện vai trò của gia đình trong PTNNL ở Việt Nam?
Luận án chỉ ra 5 nhóm nhân tố tác động:
- Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế;
- Khoa học và công nghệ (nổi bật là Cách mạng công nghiệp 4.0);
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và kinh tế thị trường;
- Yếu tố văn hóa truyền thống;
- Chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam.
4. Luận án nêu ra những vấn đề bức thiết nào từ thực trạng gia đình Việt Nam hiện nay?
Ba vấn đề đặt ra bao gồm:
- Nhận thức và thực hiện vai trò tái sản xuất ra con người còn bất cập (mất cân bằng giới tính khi sinh, quan niệm cũ);
- Yêu cầu giáo dục đạo đức, nhân cách cho nguồn nhân lực ngày càng cao trong khi vai trò giáo dục của gia đình có biểu hiện suy giảm do tác động mặt trái của kinh tế thị trường;
- Yêu cầu nâng cao thể lực và trí lực cho nguồn nhân lực trong khi điều kiện kinh tế và kỹ năng tổ chức đời sống của nhiều gia đình còn hạn chế.
Kết luận
Luận án của Đặng Thị Minh Phương đã giải quyết một cách có hệ thống vấn đề vai trò của gia đình trong phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam dưới góc độ triết học duy vật lịch sử. Công trình đã làm rõ vị trí của gia đình như một thiết chế cơ sở sinh học - xã hội và kinh tế đầu tiên quyết định chất lượng thể lực, trí lực và nhân cách của thế hệ lao động trẻ. Những đánh giá thực trạng cùng hệ thống quan điểm và giải pháp đề xuất gắn liền với các chiến lược quốc gia là tài liệu tham khảo hữu ích cho nghiên cứu học thuật và công tác quản lý xã hội về gia đình và nhân lực.