Chương 1 Ý THỨC CÔNG DÂN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NHÂN TỐ VĂN HOÁ ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH Ý THỨC CÔNG DÂN 1. Công dân và ý thức công dân 1. Khái niệm công dân Từ khi xuất hiện, triết học đã nghiên cứu về con người với tư cách là chủ đề trọng tâm. Song chỉ đến khi triết học Mác ra đời, vấn đề con người mới có được một sự lý giải khoa học và toàn diện trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Triết học Mác xem xét con người trong sự thống nhất biện chứng giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội, trong đó, mặt xã hội là cơ bản nhất quy định bản chất của con người. Khẳng định điều này, Mác viết: “Bản chất của con người không phải là một cái gì trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội”. [6, 11] Phương pháp luận được rút ra từ luận điểm trên của C.
Mác là nghiên cứu con người phải xuất phát từ những con người hiện thực, nghĩa là những con người cụ thể trong thực tiễn cải tạo tự nhiên và xã hội. Hoạt động thể hiện rõ nhất bản chất của con người là hoạt động lao động sản xuất tạo ra các sản phẩm thỏa mãn nhu cầu vật chất, tinh thần của con người. Chính trong quá trình hoạt động thực tiễn đó, con người đã cải biến tự nhiên, xã hội, cải biến chính bản thân mình và làm nên lịch sử xã hội loài người. Hoạt động sáng tạo của con người ngoài yếu tố chủ quan còn bị giới hạn bởi những điều kiện của lịch sử: trình độ của lực lượng sản xuất, các thiết chế chính trị - xã hội, văn hoá… Điều này được triết học Mác xác nhận trong mệnh đề: con người vừa là chủ thể sáng tạo của lịch sử, lại vừa là sản phẩm của lịch sử.
Tính chủ thể của con người thể hiện ở hoạt động có ý thức của nó trong quá trình cải tạo tự nhiên và xã hội. Với tư cách chủ thể lịch sử, con người chủ động, tích cực trong hoạt động chinh phục tự nhiên, đấu tranh xã hội, xây dựng và tổ chức 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các hoạt động khác nhau của bản thân. Là sản phẩm của lịch sử, tất cả mọi hoạt động của con người không thể tách rời những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội. Chính vì vậy, để phát triển và hoàn thiện con người, cần phải tạo ra những hoàn cảnh, môi trường xã hội ngày càng mang tính nhân văn như là điều kiện để con người tham gia tích cực vào việc kiến tạo các quá trình lịch sử.
Lịch sử phát triển xã hội loài người thực chất cũng là lịch sử của quá trình giải phóng con người. Trong chế độ chiếm hữu nô lệ, người lao động bị coi chỉ như công cụ biết nói. Trong xã hội phong kiến, dù đã được giải phóng về thân thể, nhưng đa số người dân vẫn không có được quyền quyết định đối với vận mệnh của bản thân do những trói buộc về ý thức hệ, thể chế chính trị và cả văn hóa. Trong điều kiện như vậy, cả điều kiện khách quan và chủ quan để người dân có thể tác động đến công việc của chính quyền là cánh cửa vô cùng hẹp.
Trên thực tế, công việc nhà nước, công việc chung của xã hội đều nằm trong tay tầng lớp thượng lưu. Và quan hệ chủ đạo giữa người dân và người cầm quyền là quan hệ “quân - thần”. Đó là quan hệ lấy sự tuân phục một chiều của người dân với người cầm quyền là chiều vận động cơ bản. Chính vì vậy, người dân chưa hình thành ý thức tích cực, chủ động tham gia vào các công việc chung của cộng đồng xã hội cũng là điều hiển nhiên.
Từ những nhận định trên có thể thấy, để chuyển từ con người nô lệ, thần dân sang con người công dân là hệ quả của quá trình biến đổi xã hội lớn (cách mạng) về kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa. Trên phương diện này thắng lợi của cách mạng tư sản là mốc quan trọng của lịch sử phát triển con người công dân bởi sức mạnh giải phóng người dân của nó. Từ địa vị là thần dân, mỗi người dân đã được thừa nhận nhận về mặt pháp lý các quyền tự do, dân chủ, đã được khuyến khích và tạo điều kiện phát triển năng lực làm chủ xã hội. Tuy nhiên với những giới hạn giai cấp của nó, cuộc cách mạng tư sản không thể giải 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quyết trọn vẹn những rào cản để người dân phát triển đầy đủ năng lực làm chủ xã hội của mình.
Về lịch sử nhận thức, có thể thấy, khái niệm công dân đã phôi thai từ thời cổ đại Hy Lạp – La Mã và được nhiều nhà triết học, nhà tư tưởng đề cập đến. Ở đây chúng tôi chỉ điểm qua quan niệm của Arixtốt. Khái niệm công dân được Arixtốt trình bày chủ yếu trong tác phẩm “Chính trị” – một cuốn sách đặc sắc về triết học chính trị, chính trị học và về xã hội của ông. Đại thể quan điểm của ông có thể tóm tắt ở những điểm chính sau: thứ nhất, cũng như nhiều nhà tư tưởng khác (và cũng là quan niệm phổ biến ở Hy Lạp – La Mã thời kỳ cổ đại nói chung) về ngoại diên, khái niệm công dân chỉ bao hàm những người “tự do” của một quốc gia (Thành bang - Polis) nhất định, nghĩa là nô lệ và kiều dân bị loại trừ trong khái niệm công dân; thứ hai, về nội hàm khái niệm, công dân là người có quyền tham gia và có quyền quyết định một cách bình đẳng các công việc liên quan đến chính trị (thảo luận, biểu quyết những chính sách, những quyết định chính trị quan trọng của quốc gia, và có quyền tham chính), đến đời sống chung của cộng đồng.
Tiêu chí tiếp theo của con người công dân được ông chỉ ra đó là sự thực hiện các nghĩa vụ của họ với quốc gia. Khẳng định điều này, Arixtốt muốn nhấn mạnh đến tiêu chí quyền và nghĩa vụ của công dân với nhà nước và ngược lại. Một người chỉ có thể trở thành một công dân khi anh ta có nghĩa vụ và phải thực hiện nghĩa vụ đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của quốc gia mà anh ta đang sống. Thực hiện được điều đó thì anh ta trở thành một công dân tốt.
Đồng thời, chính thể tương thích, trong quan niệm của ông, chỉ có thể là chính thể cộng hòa. Những ý tưởng đó của các nhà tư tưởng thời kỳ cổ đại Hy Lạp – La Mã dù mới là những nền tảng ban đầu cho sự hình thành quan niệm về công dân, nhưng giá trị của chúng là không thể phủ nhận. Đánh giá những đóng góp to lớn của các nhà tư tưởng thời kỳ Hy Lạp - La Mã cổ đại, Ph.Ăngghen viết: “Không có cái cơ sở của nền văn minh Hy Lạp và đế chế La Mã thì không có châu Âu hiện đại”. [7, 254] 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở thời kỳ trung cổ phương Tây, về cơ bản, những di sản của tư tưởng triết học chính trị cổ đại về công dân hầu như bị vứt bỏ.
Trong nhà nước quân chủ, con người được chia ra nhiều thứ bậc khác nhau với những đặc quyền, đặc lợi tuỳ thuộc vào địa vị, thứ bậc của mình. Tuy nhiên, dù ở thứ bậc nào thì người dân cũng không có tư cách công dân. Hệ thống tư tưởng, thiết chế và luật pháp của nó khẳng định người dân với tư cách là “thần dân”, và họ thuộc sở hữu của một vị quân vương. Vì vậy, nghĩa vụ của người dân là phục tùng đối với vị vua của mình.
Trong một xã hội như thế, số phận của người dân phụ thuộc vào con người cá nhân của các ông vua. Nếu đó là ông vua đức độ, nhân từ, biết chăm lo cho dân thì những điều tốt đẹp mà người dân được hưởng ấy cũng là ân huệ từ vua chứ không phải là quyền chính đáng của người dân. Quan hệ đó là quan hệ một chiều. Ở thời kỳ cận đại, cùng với sự phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, những tư tưởng về giải phóng con người khỏi mọi ràng buộc của chế độ phong kiến đã nảy nở và phát triển mạnh mẽ.
Cùng với điều đó, quan niệm về công dân đã có bước phát triển mới. Đóng góp lớn cho điều đó trước hết thuộc về các nhà triết học, nhà tư tưởng tiêu biểu của chủ nghĩa tự do như Spinoza, Hobbs, Locke, Montesquieu, Rousseau, Tocqueville, Mill… Khi khẳng định chế độ dân chủ là hình thức nhà nước tốt nhất vì chỉ trong nhà nước dân chủ các quyền tự nhiên của con người (quyền sở hữu, quyền tự do, quyền được hạnh phúc…) mới thực sự được đảm bảo, các nhà tư tưởng của trường phái nêu trên đã tiến một bước quan trọng trong quan niệm về công dân. Trong tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền” J. Locke đã đưa ra luận điểm quan trọng mà sau này trở thành cơ sở không chỉ cho lý thuyết về công dân mà cả lý thuyết về nhà nước pháp quyền: thứ nhất, mọi người sinh ra đều có các quyền tự nhiên “bình đẳng và bất khả chuyển nhượng”; thứ hai, về bản chất nhà nước và luật pháp là công cụ bảo vệ và thực thi quyền của các 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com công dân.
Ông nhận xét: Tự do của con người dưới một chính quyền, là có một quy tắc để tất cả sống theo đó, nó tồn tại thường trực và chung cho mọi người trong xã hội, được định ra từ quyền lực lập pháp đã được xã hội dựng lên. Đó là quyền tự do được làm theo ý muốn riêng trong mọi trường hợp, nếu như ý muốn đó không bị luật pháp ngăn cấm và không phụ thuộc vào ý chí độc đoán thường xuyên, không xác định và không rõ ràng của người khác. [Xem: 27, 57- 58] Cùng dòng tư tưởng này, ở T.Mill cũng có những luận điểm đáng chú ý. Từ quan niệm về bản tính tự nhiên của con người, Hobbs luận chứng rằng nhà nước là sản phẩm của sự sáng tạo cao nhất của con người để quản lý, điều hành sự phát triển xã hội, và một trong những sứ mệnh quan trọng của nhà nước là bảo vệ và mở rộng tự do chính đáng của mỗi con người.Mill nhấn mạnh điểm sau đây của khái niệm công dân: cá nhân có thể làm những gì không hại đến người khác; tự do cá nhân phụ thuộc vào hai điều kiện là trình độ dân trí và sự nghiêm minh của pháp luật.