Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH TỤNG VÀ VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC BẢO ĐẢM TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM DÂN SỰ 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH TỤNG TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1. Khái niệm và ý nghĩa của tranh tụng trong tố tụng dân sự 1. Khái niệm tranh tụng trong tố tụng dân sự Khái niệm tranh tụng đƣợc biết ngay từ những thời đại xa xƣa của xã hội loài ngƣời.
Các nhà nghiên cứu lịch sử pháp luật đều thống nhất loại hình tố tụng đầu tiên xuất hiện trong lịch sử của các hình thái xã hội là tố tụng tranh tụng. Loại tố tụng này đƣợc áp dụng tại Hy lạp cổ đại, sau đó đƣợc đƣa vào La mã với tên gọi “thủ tục hỏi đáp liên tục” [21, tr. 2], cùng với thời gian, tranh tụng tiếp tục đƣợc kế thừa, phát triển và từng bƣớc đƣợc khẳng định và đến nay nó đƣợc áp dụng hầu hết ở các nƣớc thuộc hệ thống luật án lệ (common law) cũng nhƣ ở các nƣớc thuộc hệ thống luật châu Âu lục địa (continental law hoặc civil law). Ở Việt Nam, có thể nhận xét tranh tụng trên các bình diện nhƣ sau: Thứ nhất, về mặt lập pháp, khái niệm tranh tụng chƣa đƣợc chính thức ghi nhận hoặc giải thích trong các văn bản quy phạm pháp luật của nƣớc ta đƣợc ban hành từ năm 1945 đến nay.
Thứ hai, về mặt ngôn ngữ, theo Đại từ điển Tiếng việt năm 1998 thì tranh tụng có nghĩa là “kiện tụng” [31, tr.1686]; còn theo Hán việt từ điển thì tranh tụng có nghĩa là “cãi lẽ, cải nhau để tranh lấy phải” [6, tr. Theo cách giải thích này, thì tranh tụng chính là quá trình giải quyết vụ kiện dân sự theo đó các đƣơng sự đƣợc tranh luận về các yêu cầu, các chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. 7 Thứ ba, về mặt pháp lý còn có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm tranh tụng. Quan điểm thứ nhất cho rằng: “tranh tụng chỉ là mối tương quan pháp lý của các đương sự” [8, tr.367]; quan điểm thứ hai cho rằng: “tranh tụng phát sinh ra hai mối tương quan đó là giữa các đương sự tranh nại với nhau và giữa các đương sự với quốc gia, mà đại diện là Tòa án có thẩm quyền” [8, tr.368] và quan điểm thứ ba cho rằng: “tranh tụng là quá trình từ khi tố quyền được hành xử cho đến khi có một phán quyết của Tòa án” [8, tr.
Xem xét những quan điểm này có thể nhận thấy nếu xét tranh tụng chỉ là mối tƣơng quan pháp lý giữa các đƣơng sự nhƣ quan điểm thứ nhất, theo quan điểm của tác giả là chƣa chính xác, bởi vì khi đƣơng sự khởi kiện ra Tòa án thì họ đã không thể tự giải quyết đƣợc các mâu thuẫn giữa họ và cần đến Tòa án nhƣ là ngƣời “trọng tài” đứng ra phân xử, giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp giữa họ. Vì vậy, tranh tụng không chỉ là mối tƣơng quan giữa các đƣơng sự mà còn bao hàm mối quan hệ giữa Tòa án và các đƣơng sự. Tuy nhiên nếu chỉ quan niệm tranh tụng phát sinh hai mối quan hệ giữa đƣơng sự với nhau và giữa đƣơng sự với Tòa án nhƣ quan điểm thứ hai thì cũng chỉ mới nói đến sự liên hệ tranh tụng mà chƣa nói đến bản chất của tranh tụng là gì? Còn nếu quan niệm tranh tụng nhƣ quan điểm thứ ba thì chƣa hoàn chỉnh bởi vì ở đây mới chỉ đề cập đến hình thức của tranh tụng là một quá trình từ khi khởi kiện cho đến khi Tòa án ra đƣợc một bản án, quyết định mà chƣa nói lên đƣợc bản chất của tranh tụng, các chủ thể tham gia vào quá trình tranh tụng đó đƣợc phép thực hiện những hành vi tố tụng nào và nhằm vào mục đích gì? Bản chất của TTDS là những ngƣời tham gia tố tụng, những ngƣời tiến hành tố tụng cùng nhau xác định lại các tình tiết của vụ án một cách trung thực, khách quan, toàn diện. Việc xác định sự thật khách quan về vụ án là quá 8 trình nhận thức của các chủ thể tham gia vào quá trình TTDS về vụ án.
Để xác định đƣợc sự thật khách quan của vụ án thì các chủ thể tham gia vào quá trình TTDS phải trên cơ sở các quy định của PLTTDS phát huy tính chủ động, tích cực trong việc cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá các chứng cứ, tài liệu của vụ án một cách chính xác, khách quan và đầy đủ; đƣa ra các lý lẽ, các quan điểm khác nhau, viện dẫn các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án. Đây chính là phƣơng pháp khoa học và công bằng nhất để tiếp cận đến chân lý khách quan của vụ án. Tất cả hoạt động nhƣ đƣa ra các yêu cầu và phản yêu cầu, cung cấp chứng cứ, đƣa ra các lý lẽ để chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình của các bên đƣơng sự v.v… trong giai đoạn trƣớc khi đƣa vụ án ra xét xử cũng nhƣ tại phiên tòa đều có thể hiểu là hoạt động tranh tụng. Qua đó có thể thấy, tranh tụng đƣợc hiểu theo hai nghĩa: Nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng, tranh tụng diễn ra từ khi các chủ thể thực hiện việc khởi kiện cho đến khi kết thúc quá trình giải quyết VADS. Quá trình tranh tụng này không chỉ bao gồm các giai đoạn khởi kiện, thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, đối chất, hòa giải giữa các bên đƣơng sự, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm mà cả giai đoạn xét xử theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm. Thậm chí quá trình tranh tụng có thể đƣợc tiến hành lại từ giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm trong trƣờng hợp khi bản án, quyết định về vụ án bị Tòa án cấp trên hủy để tiến hành xét xử lại. Để thực hiện tranh tụng, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử các bên đƣơng sự thông qua Tòa án liên tục trao đổi cho nhau những tài liệu chứng cứ và quan điểm của mỗi bên về việc giải quyết VADS.
Tòa án tuy không phải là một trong các bên tranh tụng mà thông qua việc thực hiện chức năng xét xử, Tòa án là ngƣời trọng tài vô tƣ, khách quan, lãnh đạo, điều hành quá trình tranh tụng. Tranh tụng là một quá trình và sự xuất hiện của Tòa án trong quá trình này là sự xác nhận tranh tụng đã lên đến đỉnh 9 điểm, cần đƣợc giải quyết. Theo nghĩa hẹp, tranh tụng là sự đối đáp với nhau bằng các chứng cứ, lý lẽ lập luận tại phiên tòa giữa các bên có quyền lợi đối lập nhau nhằm chứng minh những yêu cầu hoặc phản bác của mình với bên kia là có căn cứ, đúng pháp luật, ngƣợc lại những yêu cầu hoặc phản bác của phía bên kia là không có căn cứ, không đúng pháp luật. Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm dân sự theo truyền thống tranh tụng diễn ra từ thủ tục bắt đầu phiên tòa chứ không phải chỉ diễn ra tại phần tranh luận của phiên tòa sơ thẩm dân sự theo truyền thống xét hỏi và tranh luận chỉ là một phần của tranh tụng.
Tranh luận là một thủ tục độc lập của phiên tòa dân sự. Thủ tục tranh luận tạo cơ hội để các bên tranh tụng trình bày những đánh giá có tính kết luận của mình về các vấn đề của vụ án nhằm thuyết phục Hội đồng xét xử (HĐXX) chấp nhận những yêu cầu của mình và bác bỏ yêu cầu của bên kia. Tranh tụng khác với tranh luận là quá trình tồn tại, vận động và đấu tranh giữa hai chức năng đối trọng nhau, có quyền ngang nhau trong việc bảo vệ ý kiến, lập luận cho quyền và lợi ích của mình và phản bác ý kiến, bác bỏ lập luận quyền và lợi ích của phía bên kia. Tranh tụng là quá trình chứng minh xác định vụ việc, để đi đến chân lý khách quan của VADS nên là một quy luật khách quan của hoạt động tố tụng.
Do vậy, PLTTDS của nhiều nƣớc đã ghi nhận tranh tụng là nguyên tắc cơ bản của TTDS để nó giữ vai trò chi phối, định hƣớng cho các hoạt động tố tụng của tất cả các chủ thể tham gia vào quá trình TTDS và trên cơ sở đó kết hợp giữa tính tích cực của các bên tranh tụng với vai trò lãnh đạo của Tòa án trong quá trình tố tụng bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự đƣợc đúng đắn. Tuy vậy, tranh tụng cũng thƣờng chỉ đƣợc ghi nhận rộng rãi trong PLTTDS ở những nƣớc thuộc truyền thống luật án lệ còn ở những nƣớc thuộc truyền thống luật châu Âu lục địa thì ít đƣợc ghi nhận hơn. Nhƣ vậy có thể thấy, tranh tụng đặt ra khi cá nhân, cơ quan, tổ chức cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị ngƣời khác xâm 10 phạm và khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp đó của mình còn tranh luận là “hoạt động tố tụng của người tham gia tố tụng tại phiên tòa dân sự trong việc trao đổi, bàn cãi các ý kiến về vụ việc dân sự” [32, tr.41] và nhận thức tranh tụng trong TTDS có các đặc điểm cơ bản sau: Một là, các chủ thể tham gia tranh tụng trong TTDS là các bên đƣơng sự trong VADS. Các đƣơng sự là chủ thể của quan hệ pháp luật tranh chấp, có quyền và lợi ích liên quan đến vụ án đƣợc Tòa án giải quyết, mặt khác họ cũng là ngƣời biết rõ nguyên nhân, điều kiện phát sinh tranh chấp.
Vì vậy, trong TTDS các đƣơng sự có trách nhiệm chứng minh làm sáng tỏ các vấn đề của vụ việc dân sự, chứng tỏ cho Tòa án và những ngƣời tham gia tố tụng khác thấy đƣợc sự đúng đắn trong yêu cầu của mình và sự phản đối của mình đối với yêu cầu của ngƣời khác. Trong suốt quá trình tố tụng, các bên đƣơng sự là ngƣời thực hiện việc tranh tụng liên tục trao đổi với nhau những chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình trƣớc Tòa án trên cơ sở các quy định của PLTTDS. Tòa án không có nghĩa vụ phải tiến hành điều tra bởi vì nếu Tòa án chủ động xác minh, thu thập chứng cứ thì sẽ không bảo đảm sự khách quan, vô tƣ và công minh trong việc phân xử vụ án, không tôn trọng quyền tự định đoạt của đƣơng sự đồng thời không phát huy tính tích cực, chủ động của các đƣơng sự, gây nên tâm lý ỷ lại của các đƣơng sự.