Chương 1: Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và khung phân tích Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài. Chương 3: Hoạt động của tổ chức Công đoàn trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước tại thành phố Tây Ninh. Chương 4: Một số yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của tổ chức Công đoàn cơ sở trong doanh nghiệp. 14 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Các khái niệm công cụ 1. Công đoàn Điều 10 Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013: Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của CNLĐ được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động CNLĐ học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện trong tác phẩm “Đường cách mệnh” Người đã xác định: Tổ chức Công hội (tiền thân Công đoàn) là để công nhân đi lại với nhau cho có tình cảm; hai là để nghiên cứu với nhau; ba là để sửa sang cách sinh hoạt của công nhân cho khá hơn bây giờ; bốn là để giữ gìn quyền lợi cho công nhân, năm là giúp cho quốc dân, giúp cho thế giới”. Qua khái niệm về Công đoàn cũng như tư tưởng của Bác cho thấy tổ chức Công đoàn là một tổ chức rộng lớn của giai cấp CNLĐ.
Qua từng thời kỳ, vai trò của tổ chức Công đoàn Việt Nam không ngừng phát triển, mở rộng. Sự mở rộng đó là quy luật khách quan, tính tất yếu, tính qui luật trong vận động và phát triển của tổ chức Công đoàn, nó phù hợp với qui luật chung của quá trình xây dựng XHCN, là một tổ chức cấu thành quá trình nâng cao vai trò của tất cả các tổ chức chính trị- xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản. Hoạt động Công đoàn là cụ thể hoá các nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức Công đoàn được quy định tại Hiến pháp, Luật Công đoàn đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Qua đó, phát huy các vai trò và thực hiện có hiệu quả chức năng của mình cũng như trong đời sống xã hội.
Hoạt động của Công đoàn trước tiên là vì sự tồn tại của một tổ chức đại diện, 15 bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp, chính đáng của CNLĐ; đáp ứng mong đợi của CNLĐ; tham gia vào quản lý kinh tế - xã hội đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng thông qua quần chúng, CNLĐ. Góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị- xã hội cũng như hiệu quả sản xuất, kinh doanh của đơn vị doanh nghiệp. Qua đó cho ta thấy, tổ chức Công đoàn cũng giống như mọi tổ chức chính trị - xã hội khác điều hoạt động trong khuôn khổ, quy định của Hiến pháp và pháp luật. Đồng thời những hoạt động này đảm bảo những nguyên tắc cụ thể.
Như vậy mới nâng cao được tính hiệu quả và đáp ứng được những yêu cầu của thực tiễn. Công đoàn cơ sở Theo Điều lệ Công đoàn khoá XI: Công đoàn cơ sở là tổ chức cơ sở của Công đoàn, được thành lập ở các Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp khi có ít nhất năm đoàn viên Công đoàn hoặc năm CNLĐ có đơn tự nguyện gia nhập Công đoàn Việt Nam. Theo Luật Công đoàn năm 2012: Công đoàn cơ sở là tổ chức cơ sở của Công đoàn, tập hợp đoàn viên Công đoàn trong một hoặc một số cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, được Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở công nhận theo quy định của pháp luật và Điều lệ Công đoàn Việt Nam. Theo như các khái niệm trên, Công đoàn cơ sở là tổ chức được thành lập tại các cơ quan, đơn vị hành chính, sự nghiệp công lập, ngoài công lập, trong các doanh nghiệp nhà nước, ngoài nhà nước có từ 05 đoàn viên trở lên tự nguyện gia nhập và được Công đoàn cấp trên trực tiếp quyết định thành lập, chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức hoạt động.
Công đoàn cơ sở trong các DNNNN có vị trí, vai trò rất quan trọng. Là tổ chức Công đoàn trực tiếp quản lý đoàn viên Công đoàn; là cầu nối giữa chủ doanh nghiệp, người sử dụng lao động để giải quyết các vấn đề phát sinh, mâu thuẩn, nắm tâm tư tình cảm của đoàn viên Công đoàn và CNLĐ để phản ánh với doanh nghiệp, người sử dụng lao động những vấn đề về quyền và lợi ích của đoàn viên Công đoàn và CNLĐ bị xâm phạm; tham gia xây dựng và giám sát việc thực hiện kế hoạch, quy định, nội quy, quy trình, biện pháp bảo đảm ATVSLĐ, cải thiện điều kiện lao động nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác, sản xuất kinh doanh,. Doanh nghiệp Theo Đại Từ điển tiếng Việt, doanh nghiệp được xác định là “Tổ chức hoạt động kinh doanh của những chủ sở hữu có tư cách pháp nhân nhằm mục đích kiếm lời ở một hoặc nhiều ngành”. Ở khía cạnh kinh tế, doanh nghiệp được hiểu là một tổ chức kinh tế của một cá nhân hay tập thể thành lập nên để thực hiện một hoạt nhiều hoạt động kinh doanh khác nhau, thực hiện các chức năng sản xuất, thu, mua các sản phẩm hàng hoá nhằm kiếm lời hoặc thực hiện làm dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của con người, của xã hội.
Từ những hoạt động đó, mục đích cuối cùng của doanh nghiệp là tạo ra thặng dư hay kiếm lời. Luật doanh nghiệp năm 2014, định nghĩa: Doanh nghiệp là một tổ chức được thành lập thực hiện mục đích cốt yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh của một cá nhân hay một tập thể nào đó thực hiện kinh doanh một hay nhiều ngành nghề, dịch vụ khác nhau nhằm kiếm lời. Các công ty, xí nghiệp hoạt động sản xuất và dịch vụ,. được thành lập chính thức trên cơ sở hợp pháp.
Những doanh nghiệp có tư cách pháp nhân được thành lập trên cơ sở có mục tiêu, ngành nghề kinh doanh rõ ràng, có vốn pháp định, vốn điều lệ phù hợp với quy mô và ngành nghề kinh doanh; người quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh phải có trình độ chuyên môn tương ứng mà pháp luật đòi hỏi với một số ngành nghề. Những doanh nghiệp có tư cách pháp nhân dược thành lập trên cơ sở có mục tiêu. Như vậy, Doanh nghiệp là một tổ chức đơn vị kinh tế có tính pháp nhân theo quy định và mục đích của doanh nghiệp là rõ ràng. Khi Đảng và Nhà nước ta có nhiều quan điểm chủ trương về tạo điều kiện phát triển nền kinh tế nhiều thành phần.
Doanh nghiệp không chỉ còn giới hạn là doanh nghiệp khu vực kinh tế nhà nước ha kinh tế tập thể, hợp tác xã nữa, mà doanh nghiệp được khuyến khích, tạo điều kiện phát triển ở tất cả các thành phần kinh tế. Sự khác nhau của các doanh nghiệp ở hình thức sở hữu của doanh nghiệp và độ lớn của vốn đầu tư. Hay hiểu một cách khác doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, có tài sản và tên riêng, có trụ sở giao dịch ổn định, được cấp giấy đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật để thực hiện các hoạt động kinh doanh trên trị trường. Quá trình kinh 17 doanh thực hiện một cách liên tục, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích để sinh lợi.
Như vậy doanh nghiệp là tổ chức kinh tế vị lợi, mặc dù thực tế một số tổ chức doanh nghiệp có các hoạt động không hoàn toàn nhằm mục tiêu lợi nhuận. Trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay có nhiều loại hình doanh nghiệp; tùy theo đặc điểm về loại hình thức sở hữu, về tổ chức sản xuất, về quy mô, về lĩnh vực sản xuất, có thể phân ra nhiều loại hình bao gồm: Doanh nghiệp Nhà nước, Doanh nghiệp ngoài nhà nước. Doanh nghiệp Nhà nước Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao. Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động, kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý.
Doanh nghiệp nhà nước có tên gọi, có con dấu riêng và có trụ sở chính trên lãnh thổ Việt Nam (Luật doanh nghiệp nhà nước 1995). Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn (Luật doanh nghiệp Nhà nước năm 2003). Đến năm 2014, Luật doanh nghiệp nhà nước quy định về doanh nghiệp nhà nước là có vốn 100% nhà nước đầu tư. Như vậy, doanh nghiệp Nhà nước là một tổ chức kinh tế do Nhà nước thành lập và đầu tư 100% vốn; là tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao.
Doanh nghiệp ngoài nhà nước DNNNN là doanh nghiệp vốn trong nước mà nguồn vốn thuộc sở hữu tập thể, tư nhân một người hoặc một nhóm người hoặc có sở hữu Nhà nước nhưng chiếm từ 49% vốn điều lệ trở xuống bao gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; Công ty cổ phần; Công ty hợp 18 danh; Doanh nghiệp tư nhân; Cá nhân kinh doanh; Hợp tác xã; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành là Công ty có từ hai tổ chức hoặc hai cá nhân trở lên góp vốn thành lập công ty/doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân và chịu các nghĩa vụ pháp lý theo Luật định. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là công ty do một tổ chức hoặc một cá nhân tự bỏ vốn để thành lập công ty/doanh nghiệp. Cũng giống như công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên.
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cũng có tư cách pháp nhân, chịu các nghĩa vụ pháp lý theo Luật định.