đặt vấn đề nghiên cứu vào một bối cảnh cụ thể sẽ giúp ngƣời nghiên cứu có những cơ sở để phân tích một cách sâu sắc và toàn diện hơn. Lý thuyết tiếp cận Lý thuyết trao đổi và lựa chọn hợp lý là hai trong số những lý thuyết có nguồn gốc đa dạng nhất trong hệ thống lý thuyết xã hội học. Cơ sở cho sự xuất hiện quan điểm này bắt nguồn từ những quan điểm của nhiều ngành khoa học khác nhau nhƣ Kinh tế học, Nhân loại học, Tâm lí học. Dẫu vậy, phải thừa nhận rằng nguồn gốc kinh tế với các khái niệm chi phí – lợi nhuận là một trong những luận điểm gốc của quan điểm này.
Lý thuyết trao đổi của Thibaut và Kelley Thibaut và Kelley là các tác giả chính của nhóm tâm lý xã hội, tập trung nghiên cứu mối tƣơng quan giữa phần thƣởng và chi phí mà các thành viên của một nhóm có thể đạt đƣợc sẽ có tác động tích cực so với phần thƣởng của từng ngƣời với tƣ cách là thành viên của nhóm. Nguyên nhân là do khi con ngƣời tụ họp với nhau thành một nhóm xã hội thì hành vi của từng cá thể sẽ khác về chất so với hành vi đơn lẻ của các cá nhân. Trong một nhóm, nếu cả hai ngƣời đều có khả năng tạo ra những phần thƣởng tối đa của họ cho những ngƣời khác với chi phí tối thiểu mà họ phải bỏ ra thì mối quan hệ giữa họ không những chỉ có tính tích cực mà còn có cả lợi thế để cả hai chủ thể cùng có khả năng đƣợc tƣơng quan thƣởng – chi phí thấp nhất. Những phân tích của Thibaut và Kelley là cơ sở quan trọng cho những lý giải về sự khác biệt trong so sánh giữa hai nhóm hộ chăn nuôi lợn tại Đồng Nai.
Chi phí và lợi nhuận của nhóm hộ không tham gia chuỗi cung ứng thịt lợn cho các siêu thị là hành vi của những cá nhân đơn lẻ. Trong khi đó, các hộ chăn nuôi tham gia chuỗi cung ứng thịt lợn cho các siêu thị có mối liên kết mạnh mẽ hơn với nhà quản lý, nhà khoa học và các doanh nghiệp, đặc biệt là mối liên kết giữa các hộ cùng tham gia chuỗi cung ứng. Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý Thuyết lựa chọn hợp lý dựa vào tiền đề cho rằng con ngƣời hoạch định hành động một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cách duy lý nhằm đạt đƣợc kết quả tối đa với chi phí tối thiểu. Tức là trƣớc khi quyết định một hành động nào đó con ngƣời luôn luôn đặt lên bàn cân để cân đo, đong đếm giữa chi phí và lợi nhuận mang lại, nếu chi phí ngang bằng hoặc nhỏ hơn lợi nhuận sẽ dẫn đến quyết định thực hiện hành động và ngƣợc lại nếu chi phí lớn hơn lợi nhuận thì họ không hành động.
Khi nhắc đến lý thuyết trao đổi và lựa chọn hợp lý, có lẽ không ai có thể vƣợt qua đƣợc tên tuổi của Georg Simmel. Ông nêu ra nguyên tắc “cùng có lợi” trong mối tƣơng tác xã hội giữa các cá nhân và cho rằng mỗi cá nhân luôn phải cân nhắc, toan tính thiệt hơn để theo đuổi các nhu cầu cá nhân, thỏa mãn các nhu cầu cá nhân. Simmel cho rằng mối tƣơng tác giữa ngƣời với ngƣời đều dựa vào cơ chế cho – nhận, tức là trao đổi mọi thứ ngang giá nhau. Quan niệm này về sau đƣợc phát triển thành học thuyết trong nghiên cứu xã hội học hiện đại.
Thuyết trao đổi coi tƣơng tác xã hội nhƣ là một sự trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các bên tham gia. Mỗi bên luôn xem xét chi phí bỏ ra và lợi nhuận mang về của từng món hàng, từng dịch vụ trƣớc khi đƣa chúng ra trao đổi với nhau. Quan điểm này không đƣợc mặn mà mấy với các nhà xã hội học nhƣng thực tế cho thấy ở mọi lúc, mọi nơi con ngƣời ta đều sử dụng nó. Nhất là trong thời đại kinh tế thị trƣờng nhƣ hiện nay thì quan điểm này ngày càng tỏ rõ vai trò quan trọng trong việc lý giải các hiện tƣợng xã hội.
Hai đại diện quan trọng của lý thuyết trao đổi là George Homans và Peter Blau. Nếu nhƣ Homans xây dựng lý thuyết trên cơ sở nghiên cứu hành vi xã hội ở cấp vi mô là các cá nhân và các nhóm nhỏ thi lý thuyết Trao đổi xã hội do Peter Blau đƣa ra trên cơ sở tiếp cận cấu trúc xã hội ở cấp độ vĩ mô - nhóm lớn. Homans đƣa ra chủ trƣơng “trả lại con ngƣời cho xã hội học”, ông cho rằng mọi lý thuyết xã hội học khổng lồ thực chất đều là xã hội học về nhóm và các hiện tƣợng xã hội cần đƣợc giải thích bằng các đặc điểm của cá nhân chứ không phải bằng đặc điểm của cấu trúc xã hội. Vì vậy, cách lý giải hợp lý nhất đối với hiện tƣợng xã hội là cách giải thích tâm lý học.
“Hành vi sơ đẳng” của con ngƣời là cơ sở của sự trao đổi xã hội giữa hai hoặc nhiều ngƣời. Ông định nghĩa hành vi sơ đẳng là hành vi mà con ngƣời lặp đi lặp lại, không phụ thuộc vào việc nó đƣợc hoạch định hay không, diễn ra dƣới nhiều hình thức từ phản xạ có điều kiện đến kỹ năng, kỹ xảo đến thói quen. Con ngƣời là một chủ thể duy lý trong việc xem xét và sự lựa chọn hoạt động để đem lại phần thƣởng lớn nhất và có giá trị nhất. Ông cho rằng 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quyền lực cũng tham gia vào quá trình trao đổi, nó có khả năng đem lại các phần thƣởng có giá trị.
Vì vậy, quan hệ quyền lực cũng là quan hệ trao đổi. Khác với Homans, Blau quan tâm nghiên cứu sự trao đổi xã hội trong quan hệ với cấu trúc xã hội vĩ mô. Blau cho rằng sự trao đổi xã hội không chỉ là một khía cạnh, một mặt của hành vi xã hội mà còn có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự hội nhập, đoàn kết, thống nhất xã hội. Ông cho rằng, yếu tố cốt lõi của sự trao đổi xã hội là sự phụ thuộc của cá nhân này vào cá nhân kia về sản phẩm, hàng hóa hay dịch vụ nào đó.
Blau cũng đƣa ra quan điểm cho rằng trong trao đổi xã hội chứa đựng yếu tố quyền lực và quan hệ trao đổi là quan hệ làm nảy sinh quan hệ quyền lực. Trong trao đổi xã hội, quyền lực là thứ có thể đem trao đổi để lấy thứ khác. Do đó, ngƣời có quyền lực vẫn phải tham gia vào tƣơng tác, quan hệ với ngƣời khác để dành những thứ có giá trị. Điều đặc biệt trong nghiên cứu “trao đổi xã hội” của Blau là ông đã đƣa các lý thuyết xã hội của mình vƣợt khỏi phạm vi của các định đề tâm lý học về sự lựa chọn của cá nhân.
Thay vì nhấn mạnh các yếu tố tâm lý của hành vi lựa chọn, Blau đặc biệt chú ý đến vai trò của “cấu trúc xã hội”. Ông nghiên cứu cấu trúc xã hội vi mô với tƣ cách là cấu trúc tế bào của xã hội, tức là cấu trúc nhóm đôi, nhóm cặp. Trên cơ sở đó, ông triển khai nghiên cứu đặc điểm, tính chất của cấu trúc xã hội vĩ mô gồm nhiều ngƣời, nhiều nhóm xã hội, nhiều thiết chế xã hội và hệ thống xã hội. Trong nghiên cứu này, hành vi giữa ngƣời mua và ngƣời bán lợn tại Đồng Nai đƣợc xem xét dƣới góc độ của hành vi trao đổi.
Đây là các hoạt động mang tính chất kinh tế, do vậy đƣơng nhiên nó đƣợc nhìn nhận trên cơ sở tính toán và cân đối sự hợp lý về mặt chi phí và lợi nhuận. Hành vi này không đơn thuần là hành vi diễn ra giữa hai cá nhân ngƣời bán và ngƣời mua mà đƣợc xem xét theo quan điểm “trao đổi xã hội” của Blau trong mối quan hệ với các cấu trúc vĩ mô khác. Nói cách khác, hành vi mua-bán đối với sản phẩm thịt lợn đƣợc đặt trong mối quan hệ cung ứng giữa nhiều tác nhân liên hệ, ràng buộc về mặt lợi ích. Thông qua mối quan hệ trao đổi này, nghiên cứu sẽ tập trung làm rõ vai trò của các quan hệ mua-bán đối với các chủ thể, đặc biệt là vai trò siêu thị đối với hoạt động chăn nuôi của các hộ nông dân.
Một số khái niệm liên quan Vai trò 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo nghĩa chung nhất, từ điển tiếng Việt định nghĩa vai trò (Role) là tác dụng, là chức năng trong sự hoạt động hoặc sự phát triển của một cái gì đó. Trong Xã hội học, khái niệm vai trò đƣợc nói đến cụ thể hơn khi gắn vị thế xã hội của từng cá nhân, đó là vai trò xã hội (Social role). Xã hội học định nghĩa vai trò xã hội là mô hình hành vi đƣợc xác lập một cách khách quan, căn cứ vào đòi hỏi của xã hội với từng vị thế nhất định, để thực hiện những quyền và nghĩa vụ tƣơng ứng với các vị thế đó [15; trang 273]. Sự khác biệt căn bản trong hai khái niệm này ở chỗ, vai trò với nghĩa nói chung có thể sử dụng với tất cả các chủ thể là ngƣời hay vật.
Ngƣợc lại, vai trò xã hội thƣờng chỉ đƣợc sử dụng để nói đến vai trò của các cá nhân con ngƣời, khi đƣợc gắn với vị thế xã hội của chính cá nhân đó trong đời sống xã hội. Do vậy, nghiên cứu này sử dụng khái niệm vai trò với nghĩa vai trò nói chung để phân tích vai trò của siêu thị đối với hoạt động chăn nuôi lợn của các hộ nông dân. Hệ thống phân phối Trong nền kinh tế thị trƣờng, hàng hoá từ ngƣời sản xuất đi đến ngƣời tiêu dùng hoặc ngƣời sử dụng cuối cùng phải qua một chuỗi các hoạt động mua và bán. Hệ thống phân phối hàng hoá là thuật ngữ mô tả toàn bộ quá trình lƣu thông tiêu thụ hàng hoá trên thị trƣờng.
Chúng là những dòng chuyển quyền sở hữu các hàng hoá qua các doanh nghiệp và tổ chức khác nhau để tới ngƣời mua cuối cùng. Từ những quan điểm nghiên cứu khác nhau, chúng ta có thể có những quan niệm khác nhau về hệ thống phân phối. Từ góc độ của các doanh nghiệp - chủ thể kinh doanh, hệ thống phân phối hàng hóa là các hình thức liên kết của các doanh nghiệp trên thị trƣờng để cùng thực hiện một mục đích kinh doanh. Ngƣời sản xuất (hay nhập khẩu) phải qua các trung gian thƣơng mại để đƣa sản phẩm của họ đến ngƣời tiêu dùng.