Chương 1: Một số cơ sở lý thuyết Trong chương này, luận án trình bày khái quát về cách hiểu tình thái, các phạm trù tình thái, vấn đề trợ từ tình thái, quán ngữ tình thái, lý thuyết hành động ngôn từ, vấn đề khẩu ngữ và đặc điểm ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh. 18 Chương 2: Vai trò của trợ từ tình thái trong ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh Đầu tiên, luận án tiến hành khảo sát, thống kê số lượng và tần số xuất hiện của trợ từ tình thái. Sau đó, luận án phân tích tác dụng, chức năng trong sự hoạt động của các trợ từ tình thái mang đặc trưng khẩu ngữ Nam Bộ có trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh. Cũng trong chương này, luận án tìm hiểu khả năng kết hợp, tầm tác động của trợ từ biểu thị ý nghĩa tình thái với một số phương tiện tình thái khác trong câu nói.
Ngoài ra, luận án còn vận dụng lý thuyết dụng học để khảo cứu về khả năng trở thành dấu hiệu ngôn hành của hành động ở lời. Chương 3: Vai trò của quán ngữ tình thái trong ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh Trong chương này, luận án khảo sát, thống kê, phân tích tác dụng, chức năng trong sự hoạt động của quán ngữ tình thái mang đặc trưng khẩu ngữ Nam Bộ. Ngoài ra, luận án khảo cứu tầm tác động của quán ngữ biểu thị ý nghĩa tình thái với một số phương tiện biểu thị ý nghĩa tình thái khác trong câu nói thông qua ngữ liệu tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh. Luận án còn vận dụng lý thuyết dụng học để khảo cứu về khả năng trở thành dấu hiệu ngôn hành của hành động ở lời của các quán ngữ biểu thị ý nghĩa tình thái.
19 Chƣơng 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Vấn đề tình thái 1. Khái niệm tình thái Đặc trưng chung nhất của tình thái là phản ánh những mối quan hệ khác nhau của nội dung thông tin trong câu với hiện thực và những quan điểm, thái độ của người nói đối với nội dung miêu tả trong câu xét trong mối quan hệ với người tiếp nhận, với hoàn cảnh giao tiếp. Đặc trưng này được thể hiện qua nhiều cách định nghĩa tình thái khác nhau, tuy rằng ở mỗi tác giả có cách thể hiện khái quát hay cụ thể, tường minh hay hàm ẩn.
Ngoài nội dung tóm lược đã trình bày trong phần Lịch sử vấn đề nghiên cứu, quan điểm về tình thái có nhiều nét tương đồng và dị biệt giữa các tác giả. Quan điểm của Benveniste (1966) xem tình thái là “một phạm trù rộng lớn, nó gắn với những chờ đợi, mong muốn, đánh giá, thái độ của người nói đối với nội dung phát ngôn, với người đối thoại, những kiểu mục đích phát ngôn: hỏi, cầu khiến, trần thuật, v v. Lyons (1977) xem “tình thái là thái độ của người nói đối với nội dung của mệnh đề mà câu biểu thị hay cái sự tình mà mệnh đề đó miêu tả”. Palmer (1986) cho rằng “tình thái là những thông tin ngữ nghĩa có liên quan đến thái độ hay sự đánh giá của người nói về những gì được nói ra” [161, tr.
51], sau đó ông viết thêm “tình thái đạo lý lại liên quan đến tính hợp thức về đạo lý của hành động do một người nào đó hay do chính người nói thực hiện”.96] Trong Việt ngữ, vấn đề tình thái cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên 20 cứu như: Đỗ Hữu Châu [17], Cao Xuân Hạo [45], Lê Đông, Nguyễn Văn Hiệp [33], Nguyễn Văn Hiệp [54], Hoàng Tuệ [131], Phạm Hùng Việt [134], v. Chẳng hạn, Hoàng Tuệ đã nhận xét “tình thái là một khái niệm trong sự phân tích theo cách nhìn tìm đến thái độ của người nói trong hoạt động phát ngôn tức cũng là tìm đến tác động ngữ dụng, tác động mà người nói muốn tạo ra ở người nghe trong thực tế hoạt động ngôn ngữ” [131, tr. Cao Xuân Hạo cho rằng tình thái của câu được biểu thị trong cấu trúc cú pháp cơ bản (mà tác giả gọi là cấu trúc Đề – Thuyết) gồm có: - Nhận định của người nói về giá trị chân ngụy của điều được nói ra trong câu (khẳng định, phủ định, ngờ vực, nêu rõ phạm vi giới hạn và điều kiện của tính chân lí). - Về tính khả năng hay tất yếu của điều đó (có thể hay không có thể, tất nhiên hay không tất nhiên, mức độ cao hay thấp của tính khả năng, tính tất yếu).
- Cách đánh giá của người nói đối với sự tình được truyền đạt (đáng mừng hay đáng tiếc, đáng hy vọng hay e ngại, nên có hay không nên có, …) - Sự giới thiệu của người nói về tính chất của câu nói (tính thành thực, đơn giản, áng chừng hay chính xác,…) - Mối quan hệ giữa câu nói với tình huống đối thoại hay đối với ngôn cảnh và nhiều nội dung khác thuộc lĩnh vực lô gích và siêu ngôn ngữ [45 , tr. Điểm qua một số quan điểm về tình thái của một số tác giả tiêu biểu, chúng tôi nhận thấy rằng càng tìm hiểu chi tiết về tình thái thì càng thấy rõ tính phức tạp, gắn với những quan niệm, cách hiểu khác nhau. Mặc dù, cách diễn đạt của các tác giả là khác nhau nhưng ở họ đều có điểm chung: thừa nhận tình thái là một phạm trù ngữ nghĩa – chức năng phản ánh mối quan hệ, thái độ, cách đánh giá của người nói đối với nội dung của phần còn lại trong câu. Thông qua những quan điểm trên, chúng tôi hiểu tình thái như sau: 21 Tình thái là một phạm trù thể hiện thái độ, cách đánh giá của người nói đối với nội dung giao tiếp, với người đối thoại hoặc giữa nội dung giao tiếp với mục đích giao tiếp, với các nhân tố khác có liên quan đến sự tình được nêu ra.
Nó là một trong hai thành phần trọng yếu tạo nên cấu trúc ngữ nghĩa của câu, góp phần thực tại hoá câu, gắn câu với điều kiện giao tiếp hiện thực. Một số phạm trù tình thái chủ yếu Trong ngôn ngữ, các biểu hiện của tính tình thái rất phong phú. Chúng được biểu thị qua nhiều cấp độ bình diện ngôn ngữ khác nhau, từ ngữ điệu đến trật tự từ, từ các phương tiện từ vựng đến các phương thức ngữ pháp,. chúng lồng vào nhau khó mà nhận diện rõ ràng.
Nhiều khi một kiểu ý nghĩa lại có thể đồng thời thuộc nhiều bình diện khác nhau. Cùng một thuật ngữ mà tác giả này hiểu theo cách này tác giả khác hiểu theo cách khác, dẫn đến việc phân loại cũng khác nhau. Nhiều tác giả từng phát biểu, thật khó mà có được một cách phạm trù hóa rạch ròi, bao quát và triệt để cho lĩnh vực tình thái. Thực tế đã có hàng loạt đề xuất liên quan đến số lượng và kiểu loại tình thái.
Chẳng hạn, Jespersen (1924) cho rằng phạm trù tình thái, với tư cách là phạm trù ngữ nghĩa (notional categogy) có thể chia làm hai tiểu phạm trù dựa trên tiêu chí có hay không có sự mong muốn (will) của người nói. Hai tiểu phạm trù này tương đương với hai phạm trù tình thái đạo lý (deontic) và nhận thức (epistemic), sẽ thuộc vào 4 thái (modes) mà Von Wright đề nghị sau đây: Thái khách quan logic (alethic modes), hay thái chân thực; thái nhận thức (epistemic modes), hay thái của sự hiểu biết; thái đạo lý (deontic modes), hay thái của sự bắt buộc; thái tồn tại (existential modes), hay thái của sự hiện hữu.10 - 11] Trong một thời gian dài, các tác giả viết về tình thái thường nhắc đến ba phạm trù: tình thái khách quan logic, tình thái nhận thức, tình thái đạo lý. Tình thái khách quan logic quan tâm đến tính chân thực tất yếu hay ngẫu nhiên của mệnh đề. Tình thái nhận thức chỉ ra tình trạng hiểu biết của người nói, bao hàm cả sự xác nhận cũng như những đảm bảo cá nhân của người nói đối với điều anh 22 ta nói ra.
Tình thái đạo lý liên quan đến tính hợp thức về đạo đức hay chuẩn mực xã hội khác đối với hành động do một người nào đó hay chính người nói thực hiện. 791 – 823] Theo quan điểm phát ngôn và hành động phát ngôn, Cao Xuân Hạo đề nghị phân biệt hai thứ tình thái khác nhau về bình diện: tình thái của hành động phát ngôn và tình thái của lời phát ngôn như sau: “Tình thái của hành động phát ngôn phân biệt các lời nói về phương diện mục tiêu và tác dụng giao tế: đó là sự phân biệt quen thuộc giữa các loại câu trần thuật, câu hỏi, cầu khiến, vốn là những phân biệt được ngữ pháp hóa. Tình thái của hành động phát ngôn thuộc lĩnh vực dụng pháp. Tình thái của lời phát ngôn thuộc cái nội dung được truyền đạt hay được yêu cầu truyền đạt (trong câu trần thuật hay câu hỏi), nó có liên quan đến thái độ của người nói đối với điều được nói ra, hoặc đến quan hệ sở đề và sở thuyết của mệnh đề.
Đó là một phần quan trọng của bình diện nghĩa học. 50 - 51] Trên cơ sở những công trình nghiên cứu về tình thái mà chúng tôi tham khảo được, cùng với việc khảo sát thực tế, chúng tôi thấy có một số phạm trù tình thái chủ yếu sau: 1. Tình thái khách quan (objective modality) Tình thái khách quan liên quan đến hiện thực, nó là một phần của việc miêu tả thế giới, trong đó vai trò của người nói được loại trừ. (1) Cô về xin thưa giùm tôi kính lời thăm mợ Hương nhé! (MCT) Câu (1) là một lời nhờ cậy không có tính bắt buộc.
Tình thái chủ quan (subjective modality) Tình thái chủ quan diễn đạt thái độ của người nói (đánh giá, cam kết, thể hiện mục đích) đối với điều được nói ra, trong đó vai trò của người nói được đề cao. 23 (2) Bữa nay tao bắt được rõ ràng rồi đó, mầy còn chối nữa thôi, hử? Đi đi, đi ra khỏi nhà tao cho mau. (CCNN) Câu (2) là một hành động ra lệnh có tính bắt buộc, thể hiện tính chủ quan của người nói. Tình thái nhận thức (epistemic modality) Tình thái nhận thức thể hiện sự hiểu biết của người nói đối với tính chân thực của điều được nói đến trong câu, dựa trên những bằng chứng hoặc cơ sở suy luận nào đó mà người nói có được.
(3) Bộ thầy giận tôi hay sao mà bãi trường thầy ở miết trển, không chịu xuống dạy tôi? (ƠTT) Câu (3) thể hiện một sự phỏng đoán. Trong đó, trợ từ tình thái bộ đóng vai trò đánh dấu tình thái nhận thức.