Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Vai trò của phương tiện tình thái trong ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh" do nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Thuận thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 2013. Luận án thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học (Việt ngữ học), tiếp cận theo hướng ngôn ngữ học chức năng, ngữ nghĩa học và ngữ dụng học kết hợp khảo sát thống kê định lượng trên ngữ liệu văn bản.
Trong giao tiếp ngôn ngữ, sự tình được phản ánh có thể đúng hoặc khác với hiện thực khách quan tùy thuộc vào chủ đích của chủ thể phát ngôn, ngôn cảnh và năng lực tiếp nhận của người nghe. Vấn đề này gắn liền với các phương tiện ngôn ngữ biểu thị ý nghĩa tình thái. Trong giới Việt ngữ học, tình thái nhận được sự quan tâm qua nhiều bài viết và chuyên luận nhưng cách tiếp cận còn phân tán; quan niệm phổ biến thường giới hạn tình thái ở phương diện tình cảm và cảm xúc của người nói mà chưa chú ý đầy đủ đến tình thái của hành động phát ngôn hay tình thái của nội dung mệnh đề. Về mặt ngữ liệu, tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh phản ánh đậm nét khẩu ngữ địa phương Nam Bộ với lời ăn tiếng nói của nhân vật và ngôn ngữ dẫn chuyện, tạo lập phong cách ngôn ngữ riêng. Tuy nhiên, việc khảo sát các phương tiện tình thái trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh như một đối tượng nghiên cứu chuyên biệt cho đến thời điểm tác giả thực hiện luận án vẫn còn để ngỏ.
Mục đích nghiên cứu của luận án là khảo cứu toàn diện và có hệ thống về tác dụng, chức năng của các phương tiện biểu thị ý nghĩa tình thái trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh. Để đạt mục đích đó, tác giả xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tìm ra các tiêu chí để nhận diện phương tiện biểu thị ý nghĩa tình thái; lập danh sách và thống kê tần số của chúng trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, đồng thời tiến hành so sánh với tác phẩm cùng giai đoạn của một số tác giả khác.
- Phân tích tác dụng, chức năng của các phương tiện biểu thị ý nghĩa tình thái mang đặc trưng khẩu ngữ Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh trên các bình diện ngữ âm - từ vựng, ngữ nghĩa và cú pháp.
- Tìm hiểu vai trò của các phương tiện này trong việc hình thành lực ngôn trung cho các hành động ở lời, sự kết hợp và tầm tác động của chúng trong văn bản tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các phương tiện biểu thị ý nghĩa tình thái được sử dụng trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, trọng tâm là trợ từ tình thái và quán ngữ tình thái mang đặc trưng khẩu ngữ Nam Bộ xét trên bình diện ngữ nghĩa - ngữ dụng.
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn vào thành phần thông tin kèm theo bổ trợ (không có giá trị chân lý - tình thái/modality), phân biệt với phần thông tin có giá trị chân lý (ngôn liệu/lexis) của câu. Về mặt tư liệu, luận án tập trung vào lời nói hằng ngày của nhân vật trong 52 trên tổng số 64 tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh. Các phương tiện khẩu ngữ xuất hiện trong tác phẩm dù hiện nay ít dùng hoặc không còn dùng vẫn được khảo sát và phân tích; ngược lại, những phương tiện tình thái hiện nay phổ biến trong giao tiếp nhưng không xuất hiện trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh sẽ không thuộc phạm vi xử lý của luận án.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ học và logic học, phạm trù tình thái đã được khảo cứu từ thời cổ đại. Aristote đặt nền móng khi bàn về mệnh đề tình thái, gắn tình thái với việc phân loại phán đoán dựa trên mối liên hệ giữa chủ từ và vị từ theo các tiêu chí về tính tất yếu, tính khả năng và tính hiện thực. Đến năm 1932, Ch. Bally trong công trình Linguistique générale et linguistique française đã phân biệt hai thành tố trong câu: nội dung biểu hiện cốt lõi (dictum) và thái độ của người nói đối với nội dung đó (modus hay modalité). V. Vinogradov xác định tình thái là phạm trù ngôn ngữ học trung tâm, cơ bản, tồn tại độc lập song song với phạm trù vị tính. O. Xirotinina xem tình thái nằm trong vị tính của câu cùng với thời tính và ngôi tính. V. Bondarenko phân biệt tính tình thái khách quan và tính tình thái chủ quan, trong khi V. Liapon định nghĩa tình thái là phạm trù chức năng ngữ nghĩa phản ánh quan hệ của phát ngôn với thực tế và sự đánh giá chủ quan của người nói. M.A.K. Halliday (1994) tiếp cận tình thái qua phạm trù thức (mood) và trợ động từ (auxiliaries) gồm hai tiểu thành phần: chủ ngữ (subject) và tác tử hữu định (finite). J. Searle vận dụng lý thuyết hành động ngôn từ để thảo luận về thức và tình thái, phân biệt tình thái nhận thức (epistemic modality) và tình thái đạo lý (deontic modality).
Trong Việt ngữ học, tác giả luận án nhận xét tình thái từng ít được khảo cứu độc lập do ảnh hưởng từ quan niệm phân chia giữa lời nói (parole) và ngôn ngữ (langue) của F. de Saussure, cùng với định kiến xem tình thái chỉ đơn thuần là sắc thái tình cảm, cảm xúc như nhận định của Cao Xuân Hạo. Quá trình điểm luận tài liệu trong nước được tác giả chia thành hai nhóm:
Nhóm không trực tiếp quan tâm đến tình thái: Gồm các công trình của Bùi Đức Tịnh (1952), Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê (1963), Lê Văn Lý (1968), Nguyễn Kim Thản (1977), Đái Xuân Ninh (1978), Lê Cận và Phan Thiều (1983), Đinh Văn Đức (1986), Hoàng Phê (1987), Đỗ Hữu Châu (1993), Lê Biên (1995), Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung (1998). Nhóm tác giả này chủ yếu phân chia từ ngữ tiếng Việt theo hai lớp thực từ và hư từ; các yếu tố biểu thị ý nghĩa tình thái có nghĩa từ vựng được xếp vào thực từ, còn các yếu tố không có nghĩa từ vựng được xếp vào hư từ mà chưa nhìn nhận chúng với tư cách tác tử tình thái trong câu.
Nhóm trực tiếp quan tâm đến tình thái: Gồm các nghiên cứu của Phan Mạnh Hùng (1982), Hoàng Tuệ (1984, 1988), Nguyễn Minh Thuyết (1986, 1995), Nguyễn Đức Dân (1976, 1987, 1998), Lê Đông (1991), Hồ Lê (1992), Cao Xuân Hạo (1979, 1991, 1999, 2001, 2002), Phạm Hùng Việt (1994, 1996, 2003), Nguyễn Văn Hiệp (1994, 1998, 2001, 2002, 2008). Các tác giả này đã phân biệt rõ rệt phạm trù ngôn liệu và phạm trù tình thái. Trong đó, Nguyễn Đức Dân nghiên cứu logic - tình thái với nền tảng là tính tất yếu và tính có thể; Cao Xuân Hạo phân tích tiền giả định, hàm ý của vị từ tình thái, phân định tình thái của hành động phát ngôn và tình thái của lời phát ngôn; Hoàng Tuệ đối lập ngôn liệu (dictum) và tình thái (modus); Đỗ Hữu Châu xác định tình thái truyền đạt quan hệ nhận thức với nội dung câu và hiện thực; Nguyễn Văn Hiệp hệ thống hóa sự đối lập then chốt giữa thông tin miêu tả tiềm năng (ngôn liệu) và phần định tính (tình thái).
Về trợ từ tình thái, giới nghiên cứu tồn tại hai khuynh hướng xử lý: nhóm phương tiện đứng cuối câu bổ sung ý nghĩa tình thái (gọi là trợ từ câu, tình thái từ cuối câu, ngữ khí từ, phụ tự cảm thán) và nhóm phương tiện đứng trước bộ phận câu để nhấn mạnh (gọi là trợ từ bộ phận câu, phó từ, tiểu từ tình thái). Về quán ngữ tình thái, các tác giả Nguyễn Văn Tu (1976), Đỗ Hữu Châu (1981), Nguyễn Thiện Giáp (1985), Mai Ngọc Chừ, Hoàng Phê (2003) xem quán ngữ là các ngữ cố định dùng đưa đẩy, liên kết hoặc nhấn mạnh; các nhà ngữ pháp như Nguyễn Kim Thản (1996) gọi là phụ chú ngữ, Nguyễn Tài Cẩn (1999) gọi là thành phần xen kẽ, Cao Xuân Hạo (1991) coi là Đề tình thái, Nguyễn Minh Thuyết (1998) đặt tên là định ngữ câu. Các bài viết chuyên biệt của Nguyễn Thị Thìn (2000), Ngô Hữu Hoàng (2002), Ngũ Thiện Hùng (2003) bước đầu phân tích công dụng và phân biệt quán ngữ với thành ngữ.
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết là: chưa có công trình nào khảo cứu một cách chuyên biệt, có hệ thống và toàn diện các phương tiện tình thái (cụ thể là trợ từ và quán ngữ tình thái mang đặc trưng khẩu ngữ Nam Bộ) trên cứ liệu tác phẩm văn học cụ thể của tiểu thuyết gia Hồ Biểu Chánh dưới góc độ kết hợp ngữ nghĩa và ngữ dụng học.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án định nghĩa tình thái là một phạm trù thể hiện thái độ, cách đánh giá của người nói đối với nội dung giao tiếp, với người đối thoại hoặc giữa nội dung giao tiếp với mục đích giao tiếp và các nhân tố khác liên quan đến sự tình được nêu ra; tình thái là một trong hai thành phần trọng yếu tạo nên cấu trúc ngữ nghĩa của câu, góp phần thực tại hóa câu và gắn câu với hoàn cảnh giao tiếp hiện thực.
Hệ thống khung phân tích của luận án bao gồm tám phạm trù tình thái chủ yếu:
- Tình thái khách quan (objective modality): Gắn với hiện thực khách quan, miêu tả thế giới mà loại trừ vai trò chủ quan của người nói.
- Tình thái chủ quan (subjective modality): Diễn đạt thái độ, đánh giá, cam kết của người nói đối với điều được nói ra, đề cao vai trò của người nói.
- Tình thái nhận thức (epistemic modality): Thể hiện sự hiểu biết, phỏng đoán của người nói về tính chân thực của mệnh đề dựa trên bằng chứng hoặc suy luận.
- Tình thái đạo lý (deontic modality): Gắn với nghĩa vụ, sự cho phép, mệnh lệnh hoặc sự cam kết thực hiện hành động theo chuẩn mực xã hội.
- Tình thái hàm thực (factive modality): Bao hàm tính chất có thực của mệnh đề trong thực tế khách quan.
- Tình thái hàm hư (contrafactive modality): Bao hàm tính chất không có thực, không có căn cứ trong hiện thực của sự tình được nêu.
- Tình thái của hành động phát ngôn (modalité d’énonciation): Phân biệt mục tiêu và tác dụng giao tiếp của lời nói, liên quan đến giá trị ngôn trung (trần thuật, hỏi, cầu khiến, ngôn hành).
- Tình thái của lời phát ngôn (modalité d’énoncé): Thuộc về nội dung được truyền đạt, gồm tình thái của câu (đánh giá mức độ xác thực, tất yếu, mong muốn) và tình thái của cấu trúc vị ngữ hạt nhân (thể hiện thể, quá trình, trạng thái).
Về lý thuyết hành động ngôn từ, luận án vận dụng quan điểm của J. Austin về ba loại hành động: hành động tạo lời (locutionary act), hành động mượn lời (perlocutionary act) và hành động ở lời (illocutionary act), cùng các điều kiện thỏa mãn của hành động ở lời do J. Searle xác lập gồm bốn điều kiện: điều kiện nội dung mệnh đề, điều kiện chuẩn bị, điều kiện tâm lý và điều kiện căn bản. Luận án sử dụng bảng phân loại năm nhóm hành động ở lời của J. Searle: Trình bày (assertives), Điều khiển (directives), Cam kết (commissives), Biểu cảm (expressives) và Tuyên bố (declarations).
Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm bốn phương pháp chính và các thủ pháp bổ trợ:
- Phương pháp phân tích phân bố: Dựa trên quan điểm chức năng luận để phân định ranh giới giữa phạm trù ngôn liệu và phạm trù tình thái, xác định vị trí kết hợp và trật tự từ của phương tiện tình thái trong phát ngôn tiếng Việt.
- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa: Phân tích nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái của trợ từ, quán ngữ trong ngữ cảnh giao tiếp cụ thể của nhân vật để làm tiêu chí xác định vai trò ngữ dụng.
- Phương pháp thống kê: Xác định tần số, số lượng và tỷ lệ xuất hiện của các phương tiện tình thái trên tổng thể 14.480 trang ngữ liệu, từ đó khái quát thói quen ngôn ngữ của nhân vật.
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: So sánh ngữ liệu giữa các tác phẩm của Hồ Biểu Chánh ở các thời kỳ khác nhau, và so sánh đối chiếu với tác phẩm của các tác giả Bắc Bộ cùng Nam Bộ khác.
- Thủ pháp bổ trợ: Sử dụng thủ pháp thay thế và cải biến để kiểm tra chức năng ngữ nghĩa - ngữ pháp của phương tiện tình thái.
Nguồn ngữ liệu khảo sát chính gồm 52 trên 64 tác phẩm tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh. Nguồn ngữ liệu đối chiếu gồm: tác phẩm văn học Nam Bộ thế hệ sau (Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam, Gieo gió gặt bão của Bình Nguyên Lộc); tác phẩm văn học Bắc Bộ (Tắt đèn, Lều chõng của Ngô Tất Tố, Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, Số đỏ của Vũ Trọng Phụng).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số cơ sở lý thuyết
Chương 1 xây dựng nền tảng lý luận cho toàn bộ luận án, tập trung vào năm nội dung trọng tâm:
- Vấn đề tình thái: Phân tích các định nghĩa của Benveniste, Lyons, Palmer, Hoàng Tuệ, Cao Xuân Hạo; phân định rạch ròi tám phạm trù tình thái; xác định sự đối lập giữa ngôn liệu (lexis/dictum) và tình thái (modality/modus).
- Lý thuyết hành động ngôn từ: Giới thiệu mô hình hành động ngôn từ của J. Austin và khung phân loại của J. Searle; phân tích các điều kiện thỏa mãn và năm lớp hành động ở lời làm công cụ nhận diện lực ngôn trung.
- Vấn đề trợ từ tình thái: Xác định khái niệm trợ từ tình thái là phương tiện bổ sung thái độ, sự đánh giá, không tham gia vào nòng cốt cú pháp của câu. Phân chia trợ từ tình thái thành hai khối: trợ từ tình thái câu (đứng cuối câu/cuối vế câu, chia theo nội dung khẳng định, phủ định, kính trọng, ngạc nhiên, giận hờn, thân mật; hoặc theo kiểu câu hỏi, cầu khiến, trần thuật, cảm thán) và trợ từ tình thái bộ phận câu (đứng trước từ/ngữ để đánh giá lượng, mức độ hoặc nhấn mạnh khẳng định, phủ định).
- Vấn đề quán ngữ tình thái: Định nghĩa quán ngữ tình thái là các ngữ cố định có tính ổn định tương đối về cấu trúc, tương đương với từ về mặt chức năng tạo câu, dùng để đánh giá lượng - mức độ, tính hiện thực/phi hiện thực, tính tất yếu, tính khả năng hoặc biểu thị thái độ tin cậy, ngạc nhiên, lo lắng. Phân loại theo hình thức gồm quán ngữ hai thành tố và ba thành tố trở lên; phân loại cấu tạo gồm cụm chính phụ, cụm đẳng lập và cụm chủ vị.
- Khẩu ngữ và đặc điểm ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh: Phân tích phong cách khẩu ngữ Nam Bộ qua các biến thể ngữ âm (nhơn/nhân, đờn/đàn, chớ/chứ, thiệt/thật), từ vựng địa phương (xài, kiếm, lận, tới, thủng thẳng, thất kinh, trả treo) và cấu trúc cú pháp (cấu trúc lặp, câu ba phần mở - thân - kết, cặp liên từ "và... và" mang nghĩa "vừa... vừa"). Chương này trích dẫn nhận định của Thanh Lãng về việc Hồ Biểu Chánh đưa ngôn ngữ chất phác của người bình dân lục tỉnh vào văn học, tạo nên phong cách văn xuôi gần gũi với đời sống thường nhật.
Chương 2: Vai trò của trợ từ tình thái trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh
Chương 2 thực hiện khảo sát, thống kê và phân tích chức năng của trợ từ tình thái trên 14.480 trang ngữ liệu tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh. Đối chiếu với danh mục 102 trợ từ trong Từ điển tiếng Việt, tác giả thống kê được 58 trợ từ tình thái xuất hiện trong tác phẩm của Hồ Biểu Chánh: a, à, á, ạ, bộ, cả1, cả2, cái, chánh, chắc, chăng, chỉ, chính, cho, chớ, chứ, có, coi, đa, đã1, đã2, đâu, đây, đấy, đến, đó, đi, đích, hả, há (hé), hén (hen), hề, hết, hử, kia, lận, mà, mãi, mỗi, mới, nè (nà), nào, nghen (nghe), nhé, nữa, phàm, quả, riêng, rồi, tận, thật, thế, thiệt, thôi, tới, vậy, với, xem. Nhân vật của Hồ Biểu Chánh hoàn toàn không sử dụng các trợ từ tình thái đặc trưng Bắc Bộ (chứ lị, cơ, đếch, ru, sất, sốt, tịnh, tổ, ư) và cũng không dùng một số trợ từ quá đặc thù của Nam Bộ (nha, nhe, hà, hen, hé).
Từ 58 đơn vị trên, tác giả xác định 15 trợ từ tình thái mang đặc trưng khẩu ngữ Nam Bộ (TrTTT NB). Số liệu xuất hiện được tổng hợp trong Bảng 2.1 của luận án:
| TT |
Trợ từ tình thái Nam Bộ |
Tần số xuất hiện |
| 1 |
bộ |
287 |
| 2 |
chánh / chính |
5 / 95 |
| 3 |
chớ / chứ |
2295 / 5 |
| 4 |
coi / xem |
259 / 26 |
| 5 |
đa |
323 |
| 6 |
đó / đấy |
459 / 2 |
| 7 |
há (hé) |
188 |
| 8 |
hén |
1 |
| 9 |
lận / kia |
126 / 2 |
| 10 |
mà |
37 |
| 11 |
mới |
735 |
| 12 |
nè (nà) / này |
47 (29) / 4 |
| 13 |
nghen (nghe/nghé) / nhé |
6 (5/10) / 1 |
| 14 |
thiệt / thật |
358 / 31 |
| 15 |
tới / đến |
231 / 36 |
Để làm rõ nét riêng trong việc sử dụng trợ từ tình thái của Hồ Biểu Chánh, luận án tiến hành so sánh tần số xuất hiện của 06 cặp trợ từ qua ba nhóm ngữ liệu đối chiếu (mỗi tác phẩm khảo sát 105 trang đầu, riêng Tố Tâm khảo sát toàn bộ 105 trang):
- Nhóm 1: Ai làm được (HBC) đối chiếu với Tố Tâm (Hoàng Ngọc Phách).
- Nhóm 2: Thiệt giả giả thiệt (HBC) đối chiếu với Số đỏ (Vũ Trọng Phụng).
- Nhóm 3: Vợ già chồng trẻ (HBC) đối chiếu với Gieo gió gặt bão (Bình Nguyên Lộc).
Kết quả so sánh được trình bày trong Bảng 2.2 của văn bản:
| TT |
Trợ từ tình thái |
Nhóm 1: Ai làm được (HBC) |
Nhóm 1: Tố Tâm (HNP) |
Nhóm 2: Thiệt giả giả thiệt (HBC) |
Nhóm 2: Số đỏ (VTP) |
Nhóm 3: Vợ già chồng trẻ (HBC) |
Nhóm 3: Gieo gió gặt bão (BNL) |
| 1 |
chánh / chính |
0 / 0 |
0 / 9 |
1 / 0 |
0 / 20 |
0 / 3 |
2 / 4 |
| 2 |
chớ / chứ |
15 / 0 |
0 / 0 |
46 / 0 |
0 / 66 |
13 / 0 |
16 / 0 |
| 3 |
đó / đấy |
32 / 0 |
0 / 2 |
8 / 0 |
0 / 71 |
3 / 0 |
65 / 1 |
| 4 |
nghen / nhé |
0 / 0 |
0 / 0 |
0 / 1 |
0 / 8 |
0 / 0 |
7 / 7 |
| 5 |
thiệt / thật |
0 / 0 |
0 / 2 |
8 / 0 |
0 / 9 |
0 / 0 |
0 / 9 |
| 6 |
tới / đến |
2 / 1 |
0 / 2 |
14 / 25 |
0 / 6 |
9 / 3 |
3 / 4 |
Số liệu cho thấy Hồ Biểu Chánh ưu tiên sử dụng các biến thể Nam Bộ (chớ, đó, tới), trong khi các tác giả Bắc Bộ (Hoàng Ngọc Phách, Vũ Trọng Phụng) dùng biến thể toàn dân hoặc Bắc Bộ (chính, chứ, đấy, nhé, thật). Đáng chú ý, ở tác phẩm cuối đời của Hồ Biểu Chánh (Vợ già chồng trẻ) và tác phẩm của Bình Nguyên Lộc (Gieo gió gặt bão), tần số sử dụng đan xen giữa trợ từ Nam Bộ và trợ từ toàn dân gia tăng, phản ánh quá trình tiếp nhận ngôn ngữ toàn dân của văn xuôi Nam Bộ nửa sau thế kỷ XX.
Trong các mục tiếp theo của Chương 2, luận án đi sâu phân tích đặc điểm và chức năng ngữ nghĩa của trợ từ tình thái (chức năng nhấn mạnh, đánh giá số lượng, đánh giá thái độ giao tiếp); nghiên cứu tầm tác động cú pháp của trợ từ tình thái (tác động lên một từ, một ngữ hay toàn bộ phát ngôn); và khảo sát vai trò của trợ từ tình thái trong việc trở thành dấu hiệu ngôn hành tham gia xác lập các hành động ở lời như cầu khiến, hỏi, xác quyết, phản bác và biểu cảm.
Chương 3: Vai trò của quán ngữ tình thái trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh
Theo kết cấu văn bản luận án, Chương 3 giải quyết bốn nội dung chính về quán ngữ tình thái:
- Khảo sát, thống kê và phân loại: Tập hợp danh mục các quán ngữ tình thái xuất hiện trong tác phẩm Hồ Biểu Chánh (như chẳng dè, có dè, coi bộ, dữ hôn, giống gì, thây kệ, thiệt quả, mới phải, cực chẳng đã, túng thế). Phân loại chúng theo số lượng thành tố (hai thành tố, ba thành tố trở lên) và cấu trúc ngữ pháp (cụm chính phụ, cụm đẳng lập, cụm chủ vị).
- Đặc điểm, chức năng của quán ngữ tình thái: Phân tích cơ chế biểu đạt nghĩa tình thái đánh giá (lượng, mức độ, tính hiện thực, tính khả năng, tính tất yếu) và bộc lộ thái độ cảm xúc (nghi ngờ, ngạc nhiên, khẳng định, cam chịu, băn khoăn).
- Tầm tác động của quán ngữ tình thái: Khảo sát khả năng kết hợp và phạm vi chi phối ngữ nghĩa của quán ngữ đối với các thành phần trong câu, mối quan hệ giữa quán ngữ với cấu trúc Đề - Thuyết và khung câu.
- Hành động ở lời của quán ngữ tình thái: Vận dụng lý thuyết ngữ dụng để phân tích khả năng của quán ngữ tình thái trong việc đóng vai trò là dấu hiệu chỉ dẫn hiệu lực ở lời, góp phần định hình các hành động khẳng định, phân trần, thoái thác, khuyến lệnh hoặc bộc lộ tâm lý của nhân vật.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn như sau:
Về mặt khoa học:
- Vận dụng lý thuyết ngữ nghĩa và ngữ dụng học vào việc khảo sát, nhận diện và thống kê có hệ thống các phương tiện biểu thị ý nghĩa tình thái trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh.
- Xác định rõ khái niệm, đặc điểm và chức năng của các phương tiện tình thái khẩu ngữ; khái quát vai trò của lớp phương tiện này trong tương quan với các phương tiện ngôn ngữ khác trong hoạt động giao tiếp.
- Làm rõ thêm một số vấn đề lý thuyết về tình thái của trợ từ và quán ngữ mang đặc trưng khẩu ngữ Nam Bộ trên ngữ liệu văn học hiện thực.
Về mặt thực tiễn:
- Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo cho các đề tài nghiên cứu về ngôn ngữ học, phương ngữ học Nam Bộ và phong cách học tác giả văn học.
- Đóng vai trò là tài liệu hỗ trợ cho công tác giảng dạy và học tập tiếng Việt trong nhà trường, đặc biệt ở các học phần ngữ pháp, ngữ nghĩa - ngữ dụng học.
- Xây dựng một hệ thống cứ liệu thực tế minh chứng cho khả năng biểu thị tình thái của khẩu ngữ Nam Bộ trong giao tiếp hằng ngày và trong sáng tác văn xuôi Quốc ngữ thời kỳ đầu.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Căn cứ vào phần thuyết minh của tác giả trong văn bản luận án, các hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp được ghi nhận:
- Về phạm vi phương tiện: Do giới hạn về dung lượng trang của một luận án tiến sĩ, tác giả chỉ tập trung khảo sát hai phương tiện tình thái nổi trội là trợ từ tình thái và quán ngữ tình thái; luận án chưa khảo sát các phương tiện tình thái quan trọng khác như vị từ tình thái hay các cấu trúc cú pháp tình thái chuyên biệt.
- Về phạm vi ngữ liệu: Luận án mới khảo sát 52 trên tổng số 64 tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, chưa bao quát toàn bộ 100% tác phẩm của tác giả này.
- Về đối tượng khảo sát: Luận án loại trừ các phương tiện tình thái khẩu ngữ hiện đại phổ biến hiện nay nhưng không được Hồ Biểu Chánh sử dụng trong tác phẩm; đồng thời tác giả cũng chưa khảo sát các phương tiện tình thái rất đặc thù của Nam Bộ mà Hồ Biểu Chánh chủ động lược bỏ (nha, nhe, hà, hen, hé).
- Hướng nghiên cứu tiếp: Nghiên cứu có thể mở rộng khảo sát toàn bộ 64 tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, bổ sung nghiên cứu vị từ tình thái, hoặc mở rộng so sánh phương tiện tình thái của Hồ Biểu Chánh với các tác gia văn xuôi Nam Bộ cùng thời và giai đoạn hiện đại.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo phù hợp cho các nhóm đối tượng và mục đích nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Ngôn ngữ học: Tham khảo khung lý thuyết kết hợp giữa ngữ nghĩa học và ngữ dụng học (lý thuyết tình thái của Ch. Bally, Palmer kết hợp với lý thuyết hành động ngôn từ của J. Austin, J. Searle); quy trình phân loại và tiêu chí nhận diện trợ từ tình thái câu và trợ từ tình thái bộ phận câu.
- Nhà nghiên cứu phương ngữ học và lịch sử tiếng Việt: Tham khảo hệ thống số liệu thống kê (Bảng 2.1 và Bảng 2.2) về tần số xuất hiện của 15 trợ từ tình thái Nam Bộ và sự biến chuyển ngữ âm - từ vựng giữa phương ngữ Nam Bộ với ngôn ngữ toàn dân giai đoạn nửa đầu và nửa sau thế kỷ XX.
- Giảng viên ngữ văn và sinh viên ngành sư phạm ngữ văn: Sử dụng chương 1 và chương 2 làm tài liệu giảng dạy chuyên đề về trợ từ, quán ngữ, phong cách khẩu ngữ trong văn học và đặc trưng ngôn ngữ văn xuôi Hồ Biểu Chánh.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án khảo sát bao nhiêu tác phẩm của Hồ Biểu Chánh và quy mô trang ngữ liệu là bao nhiêu?
Luận án tiến hành khảo sát trên 52 tác phẩm tiểu thuyết (trên tổng số 64 tiểu thuyết) của Hồ Biểu Chánh, với tổng dung lượng ngữ liệu là 14.480 trang sách.
2. Có bao nhiêu trợ từ tình thái được tìm thấy trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh và bao nhiêu đơn vị mang đặc trưng khẩu ngữ Nam Bộ?
Qua khảo sát, luận án thống kê được 58 trợ từ tình thái xuất hiện trong tác phẩm của Hồ Biểu Chánh. Dựa vào các từ điển chuyên ngành và đối chiếu thực tế, tác giả xác định được 15 trợ từ tình thái mang đặc trưng khẩu ngữ Nam Bộ.
3. Trợ từ tình thái Nam Bộ nào xuất hiện nhiều nhất và trợ từ nào xuất hiện ít nhất trong ngữ liệu khảo sát của Hồ Biểu Chánh?
Theo Bảng 2.1 của luận án, trợ từ chớ xuất hiện nhiều nhất với tần số 2.295 lần (so với biến thể toàn dân chứ chỉ xuất hiện 5 lần). Trợ từ xuất hiện ít nhất là hén, chỉ xuất hiện duy nhất 1 lần trong ngữ liệu khảo sát.
4. Vì sao một số trợ từ khẩu ngữ Nam Bộ rất quen thuộc như "nha, nhe, hà, hen, hé" lại không xuất hiện trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh?
Tác giả lý giải rằng do tính chất đại chúng của tiểu thuyết, tác phẩm hướng đến phục vụ đông đảo độc giả thuộc nhiều tầng lớp, do đó Hồ Biểu Chánh chủ trương không đưa các trợ từ mang tính cục bộ quá đặc thù vào văn bản, đồng thời cũng hạn chế sử dụng các từ như hén, chánh, nghen.
5. Luận án chọn đối chiếu tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh với những tác giả và tác phẩm cụ thể nào?
Luận án đối chiếu với các tác phẩm miền Nam gồm Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam và Gieo gió gặt bão của Bình Nguyên Lộc; đối chiếu với các tác phẩm miền Bắc gồm Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, Tắt đèn và Lều chõng của Ngô Tất Tố.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Thuận đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về phạm trù tình thái, lý thuyết hành động ngôn từ và đặc trưng khẩu ngữ Nam Bộ trong văn xuôi Quốc ngữ. Dựa trên việc xử lý 14.480 trang ngữ liệu từ 52 tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, công trình đã xác lập danh mục 58 trợ từ tình thái, phân lập 15 trợ từ mang đậm đặc trưng Nam Bộ và chỉ ra cơ chế hoạt động ngữ nghĩa - ngữ dụng của trợ từ và quán ngữ tình thái. Công trình cung cấp các dẫn chứng định lượng và định tính cụ thể, góp phần làm sáng tỏ diện mạo khẩu ngữ Nam Bộ trong quá trình hình thành phong cách ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh và tiến trình phát triển của tiếng Việt đầu thế kỷ XX.