Mở đầu Phần 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của phụ nữ trong nâng cao mức sống của hộ gia đình Phần 3. Phương pháp nghiên cứu Phần 4. Kết quả nghiên cứu Phần 5.
Kết luận và kiến nghị 4 c PHẦN 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG NÂNG CAO MỨC SỐNG CỦA HỘ GIA ĐÌNH 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG NÂNG CAO MỨC SỐNG CỦA HỘ GIA ĐÌNH 2. Các khái niệm có liên quan 2.
Các quan điểm về vai trò Theo từ điển Xã hội học, vai trò là một trong số ít khái niệm xã hội học được chấp nhận và vận dụng rộng rãi. Tuy nhiên, vai trò là một trong số ít khái niệm không rõ nét và đa nghĩa. Lý thuyết vai trò được “phát triển từ hai hướng tiếp cận của một quan sát xã hội học vi mô và của một quan sát xã hội học vĩ mô” và bề mặt khoa học được hình thành như là một bộ phận của một tiếp cận “Lý thuyết hành động – Tương tác” và của một tiếp cận “lý thuyết hệ thống - chức năng”. Có thể hiểu vai trò là một “tập hợp những kỳ vọng ở trong xã hội gắn với các hành vi của những người mang các địa vị khác nhau” (Ralf Dahrendorf, 2002).
Nhà nhân học Ralph Linton, đã có công đầu trong việc xây dựng nội dung xã hội học của khái niệm vị thế và vai trò. Ông định nghĩa, vị thế được hiểu theo hai nghĩa. Theo nghĩa trừu tượng, vị thế là một vị trí trong một khuôn mẫu tương tác nhất định. Theo nghĩa này, một người hay một nhóm người có nhiều vị thế do tham gia nhiều khuôn mẫu hành vi.
Theo nghĩa cụ thể, vị thế của một người là tập hợp tất cả những vị thế mà người đó nắm giữ trong các mối tương tác xã hội. Do đó theo hai nghĩa này vị thế xác định vị trí cụ thể của một người trong những mối tương tác xã hội với những người khác và vị thế tổng hợp xác định vị trí của người đó với tổng thể xã hội (Ralph Linton, 1956). Dưới góc độ hành vi luận, vị thế là tập hợp những quyền và trách nhiệm mà người nắm giữ vị thế đó phải thực hiện. Tuy nhiên, khái niệm vị thế chỉ nói đến xuất phát điểm của hành vi chứ chưa nói đến mặt hoạt động của nó.
Khái niệm vai trò mới nói đến mặt động thái của hành vi. Nói cách khác vai trò là hành vi của người nắm giữ vị thế mà hành vi đó hướng vào việc đáp ứng những kì vọng của người khác về quyền và trách nhiệm gắn với vị thế. Một cá nhân có thể có đồng thời nhiều vai trò do cá nhân đó có nhiều vị thế khác nhau trong các 5 c tổ chức khác nhau. Tuy nhiên, trong một thời gian cụ thể, những vai trò đó không cùng biểu hiện với mức độ tích cực ngang nhau.
Một vị thế xã hội cụ thể thông thường có một số các vai trò, người ta gọi là tập hợp các vai trò. Có các vị trí khác nhau thì mức độ phức tạp của các vai trò gắn liền với chúng cũng khác nhau. Một cá nhân ở một vị trí cụ thể luôn có nhiều quan hệ liên quan, trong đó có vai trò chính và vai trò phụ. Những vai trò của một cá nhân ở một vị trí cụ thể không mâu thuẫn nhau mà chúng có quan hệ tương tác nhau, giúp các cá nhân đó thể hiện được vai trò tổng quát của mình.
Vậy có thể hiểu rằng: Vai trò là những gì mà một cá nhân phải làm để giữ vị thế của mình có giá trị, là những hành vi mà xã hội mong chờ, kỳ vọng một cá nhân thực hiện phù hợp với vị thế xã hội của họ. Giới và giới tính Giới - Khái niệm về giới được xuất hiện đầu tiên ở các nước nói tiếng Anh vào khoảng những năm 60 của thế kỷ XX. Ở Việt Nam, khái niệm này mới xuất hiện vào khoảng thập kỷ 80. - Giới là chỉ sự khác biệt về xã hội và quan hệ về quyền lực giữa trẻ em trai và trẻ em gái, giữa phụ nữ và nam giới, được hình thành và khác nhau ngay trong một nền văn hóa, giữa các nền văn hóa và thay đổi theo thời gian.
- Giới là phạm trù chỉ quan niệm, vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ. Xã hội tạo ra các giới và định cho họ những đặc điểm giới khác nhau. Do đó mà các đặc điểm giới rất đa dạng. - Giới là sự khác biệt về mặt xã hội giữa nam giới và phụ nữ như vai trò, thái độ, hành vi ứng xử và các giá trị.
Vai trò giới được biết đến thông qua quá trình học tập và khác nhau theo từng nền văn hóa và thời gian. Do vậy giới có thể thay đổi được (Theo SEAGEP, 2001). TS Bùi Ngọc Oánh, (2005). Giới được hiểu theo những đặc điểm về sinh lý, là một tập hợp người có những đặc điểm sinh lý tương ứng nhau.
Trong những đặc điểm ấy, đặc điểm điển hình nhất là cơ quan sinh dục. Theo cách hiểu này thì con người được chia làm 2 giới: nam giới và nữ giới. - Sự khác biệt giữa nam và nữ được thể hiện qua một số đặc điểm sau: 6 c Bảng 2. Sự khác biệt giữa nam và nữ Nữ giới Nam giới Dịu dàng, đảm đang, mềm yếu, Mạnh mẽ, cứng rắn, được xem là phái mạnh hiền thục, được xem là phái yếu Tỉ mỉ, chu đáo, khéo léo Có cái nhìn tổng thể, bao quát Mang thai, sinh con Không mang thai Nguồn: Tự tổng hợp Từ bảng trên ta thấy, giữa nam giới và nữ giới có sự khác nhau rõ rệt.
Vì vậy trong gia đình họ cũng có những trách nhiệm, và sự đưa ra quyết định khác nhau. Nữ giới luôn được xem là phái yếu, vì họ nhạy cảm và sống thiên về tình cảm. Phụ nữ là người giữ lửa cho gia đình, họ mang trên mình thiên chức làm mẹ, làm vợ thiêng liêng. Bên cạnh đó phụ nữ ngày nay cũng tham gia các công tác xã hội, đoàn thể, công việc bên ngoài.
Nam giới luôn được coi là phái mạnh, là trụ cột của gia đình. Họ là người đưa ra các quyết định quan trọng trong gia đình vì vậy họ cứng rắn, năng động, mạnh mẽ để tìm được quyết định đúng đắn nhất trong cả công việc và gia đình. Từ đặc điểm đó, họ tập trung nhiều thời gian hơn vào hoạt động sản xuất kinh doanh, công việc xã hội và ít bị ảnh hưởng bởi con cái và gia đình. Phụ nữ Phụ nữ mang đặc điểm giới tính sinh học nhất định, trong đó có những đặc trưng cơ bản như: yếu đuối, mang thai, sinh con…Do đó, người phụ nữ có những vai trò hết sức quan trọng trong đời sống và xã hội.
Người phụ nữ phải chịu nhiều thiệt thòi, bất công hơn nam giới. Sinh ra đã là phái yếu, họ luôn phải sống trong cảnh cam chịu, đối với một người phụ nữ đã phải chịu bao lo toan cho cuộc sống gia đình, nhưng cũng không có quyền quyết định đối với những công việc to lớn trong gia đình. Hiện nay, Đảng và nhà nước đã có những chính sách nhằm giúp người phụ nữ thấy được tầm quan trọng của mình. Người phụ nữ là người sắp xếp, tổ chức cuộc sống gia đình.
Ngày nay có rất nhiều phụ nữ tham gia vào các công việc của xã hội và thành công không kém nam giới, nhưng nhìn chung công việc nội trợ, quản lý gia đình vẫn là công việc chủ yếu do người phụ nữ đảm trách. Ngoài ra, phụ nữ còn có vai trò trọng yếu trong việc điều hòa các mối quan hệ gia đình. Như vậy, trách nhiệm đè nặng lên đôi vai người phụ nữ, không những giỏi 7 c việc nước mà còn đảm việc nhà. Người phụ nữ không chỉ chăm lo, vun vén cho cuộc sống gia đình mà còn phải nỗ lực tham gia lao động, sản xuất cùng người chồng.
Ngày nay, phụ nữ tham gia vào hầu hết các lĩnh vực của xã hội và sự tham gia của họ ngày càng có ý nghĩa to lớn. Trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế họ được đánh giá là những người tài năng, trí tuệ, khéo léo và giàu đức hi sinh. Họ là những nhà lãnh đạo, nhà ngoại giao giỏi, chuyên gia kinh tế xuất sắc không thua kém bất kỳ nam giới nào. Quan điểm về vai trò phụ nữ a.
Quan điểm, Tư tưởng của Hồ Chí Minh về vai trò của phụ nữ trong xã hội Tư tưởng nhất quán xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh là nhằm mục đích cao nhất giải phóng con người và ra sức tranh đấu để đòi lại những quyền thiêng liêng của con người. Trong đó, Bác đặc biệt quan tâm đến sự nghiệp giải phóng phụ nữ và đấu tranh bảo vệ quyền bình đẳng cho họ. Những tư tưởng của Hồ Chí Minh về vấn đề giải phóng phụ nữ vẫn còn nguyên giá trị. Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh về phụ nữ được xuất phát từ tình cảm đặc biệt đối với những người phụ nữ nói chung và từ thực trạng bất bình đẳng của phụ nữ dưới chế độ phong kiến, sự cai trị thâm độc của thực dân Pháp đối với nước ta cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.
Bác Hồ luôn đánh giá cao vai trò to lớn của phụ nữ Việt Nam và cho chúng ta thấy những nhà kinh điển của chủ nghĩa xã hội khoa học đánh giá cao vai trò của phụ nữ trong xã hội. Điều này có thể lý giải tại sao từ năm 1910 thế giới tiến bộ lấy ngày 08 tháng 3 là Ngày Phụ nữ quốc tế, nhằm đoàn kết phụ nữ các nước đấu tranh để giải phóng giới mình, giành các quyền bình đẳng về kinh tế, chính trị và xã hội cho họ; cũng vì vậy mà khi thành lập Quốc tế Cộng sản (3/1919) hay Quốc tế III đã tổ chức phụ nữ quốc tế vì những mục tiêu đó. Cũng như Mác và Lênin, từ lịch sử dân tộc, lịch sử thế giới, Bác Hồ thấy rõ vai trò của phụ nữ thế giới nói chung, phụ nữ Việt Nam nói riêng. Người nhận xét: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”.
Người cũng rút ra kết luận “Xem trong lịch sử cách mệnh chẳng có lần nào là không có đàn bà tham gia”, rồi Người khẳng định: “An Nam cách mệnh cũng phải có nữ giới tham gia mới thành công” (Hồ Chí Minh, 1970).