Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 2002–2007, tiến trình đô thị hóa và công nghiệp hóa tại thành phố Hải Phòng diễn ra mạnh mẽ, dẫn đến gần 20.000 ha đất bị thu hồi, trong đó phần lớn là đất nông nghiệp màu mỡ tại các vùng ven đô. Quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất quy mô lớn này đã trực tiếp khiến hơn 73.000 lao động nông nghiệp rơi vào tình trạng mất tư liệu sản xuất chính, tạo nên áp lực gay gắt đối với hệ thống an sinh xã hội địa phương. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm đặt ra là làm thế nào để phát huy hiệu quả vai trò quản lý và kiến tạo của Nhà nước nhằm giải quyết việc làm bền vững cho người nông dân mất đất, ngăn ngừa nguy cơ phân hóa giàu nghèo và xung đột xã hội trong bối cảnh tái cơ cấu kinh tế.

Mục tiêu cụ thể của công trình là hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò can thiệp của Nhà nước trong chuyển dịch lao động; khảo sát, phân tích toàn diện thực trạng việc làm của các hộ dân bị thu hồi đất tại Hải Phòng từ năm 2000 đến năm 2008; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ có tính khả thi cao nhằm ổn định sinh kế người dân đến năm 2015 và định hướng năm 2020.

Phạm vi nghiên cứu bao quát không gian toàn bộ địa bàn thành phố Hải Phòng với diện tích tự nhiên 1.507,6 km², trọng tâm là các quận mới thành lập như Hải An, Dương Kinh, Đồ Sơn và các huyện thuần nông chịu tác động thu hồi đất lớn. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện chính sách bồi thường, rút ngắn thời gian giải phóng mặt bằng các dự án trọng điểm, hướng tới mục tiêu giảm tỷ lệ thất nghiệp vùng ven đô xuống dưới mức 5% và thúc đẩy thu nhập bình quân đầu người của lao động chuyển đổi nghề tăng trưởng ổn định trên 10% mỗi năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng kết hợp nhiều lý thuyết kinh tế học phát triển và kinh tế chính trị hiện đại. Thứ nhất, lý thuyết tạo việc làm thông qua can thiệp đầu tư công của John Maynard Keynes khẳng định vai trò chủ đạo của Chính phủ trong việc kích cầu tổng thể, đầu tư hạ tầng kỹ thuật và trợ cấp chuyển đổi nhằm duy trì trạng thái toàn dụng nhân công khi thị trường tự điều tiết thất bại. Thứ hai, mô hình chuyển dịch lao động hai khu vực của Arthur Lewis phân tích cơ chế dịch chuyển lực lượng lao động dư thừa từ khu vực nông nghiệp năng suất thấp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ đô thị có giá trị gia tăng cao. Thứ ba, mô hình di dân việc làm của John Todaro và lý thuyết việc làm mùa vụ của Harry Oshima bổ sung góc nhìn về chênh lệch thu nhập kỳ vọng giữa nông thôn và thành thị cùng các giải pháp đa dạng hóa ngành nghề phi nông nghiệp.

Mô hình nghiên cứu vận dụng cấu trúc tương tác ba bên gồm: Nhà nước giữ vai trò hoạch định thể chế và hỗ trợ nguồn lực, Doanh nghiệp tiếp nhận và sử dụng lao động, Người lao động chủ động nâng cao năng lực thích ứng. Các khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa bao gồm: việc làm theo chuẩn mực Điều 13 Bộ luật Lao động, giải quyết việc làm, đô thị hóa theo chiều rộng và chiều sâu, thu hồi đất và chuyển dịch cơ cấu lao động.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp với các kỹ thuật phân tích kinh tế thực chứng. Cỡ mẫu khảo sát thực tế gồm 300 hộ gia đình tại các điểm nóng giải phóng mặt bằng thuộc xã Vĩnh Niệm và xã Gia Minh, đại diện cho hai nhóm hình thái chuyển đổi sinh kế điển hình tại Hải Phòng. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên có chủ đích được áp dụng nhằm phản ánh khách quan cơ cấu độ tuổi, trình độ học vấn và mức độ mất đất (mất toàn bộ hoặc mất một phần). Lý do lựa chọn phương pháp này là đảm bảo tính đại diện cao, giúp đo lường chính xác tác động của chính sách bồi thường và khả năng tiếp cận nghề nghiệp mới của từng nhóm nhân khẩu.

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo thống kê chính thức của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Tài nguyên và Môi trường cùng hệ thống số liệu quy hoạch quốc gia giai đoạn 2000–2007. Dữ liệu sơ cấp được xử lý qua phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh tỷ lệ phần trăm và tổng hợp quy nạp. Toàn bộ quá trình nghiên cứu, khảo sát thực địa và tổng hợp dữ liệu được tiến hành nghiêm túc trong khoảng thời gian 8 tháng từ cuối năm 2007 đến giữa năm 2008.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực chứng đã chỉ ra bốn phát hiện cốt lõi về tác động của việc thu hồi đất đối với thị trường lao động tại Hải Phòng:

Thứ nhất, tốc độ thu hồi đất diễn ra nhanh nhưng cơ chế tạo việc làm mới không theo kịp. Thống kê cho thấy cứ 1 ha đất nông nghiệp bị chuyển đổi làm mất việc làm của khoảng 10 đến 13 lao động. Trong tổng số hơn 73.000 người mất đất nông nghiệp giai đoạn 2002–2007, chỉ có khoảng 34% lao động tìm được việc làm ổn định trong các khu công nghiệp hoặc chuyển sang kinh doanh dịch vụ, trong khi hơn 66% còn lại phải làm các công việc tự do bấp bênh hoặc rơi vào tình trạng thiếu việc làm cục bộ.

Thứ hai, chất lượng nguồn nhân lực nông thôn bị thu hồi đất còn rất thấp. Kết quả điều tra ghi nhận trên 87,5% lao động mất đất chưa từng qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật chính quy, chỉ có khoảng 12,5% sở hữu chứng chỉ sơ cấp nghề hoặc bằng trung cấp. Rào cản học vấn và thói quen sản xuất tự cung tự cấp khiến người lao động rất khó đáp ứng kỷ luật công nghiệp của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Thứ ba, cơ cấu sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ đất đai bộc lộ nhiều bất cập nghiêm trọng. Khảo sát tại các xã trọng điểm chỉ ra rằng hơn 62% tổng số tiền đền bù được người dân sử dụng vào việc xây dựng nhà ở kiên cố và mua sắm tiện nghi sinh hoạt đắt tiền; khoảng 15% gửi tiết kiệm ngân hàng; chỉ có xấp xỉ 23% được đầu tư vào sản xuất, mở cửa hàng kinh doanh hoặc chi trả học phí học nghề mới.

Thứ tư, chính sách tín dụng và đào tạo nghề của Nhà nước chưa phát huy tối đa hiệu quả trợ lực. Hạn mức cho vay ưu đãi 20 triệu đồng trong thời hạn 2 năm từ Ngân hàng Chính sách Xã hội chưa đủ để các hộ dân tạo lập cơ sở kinh doanh thương mại mới, trong khi các khóa đào tạo nghề ngắn hạn còn nặng lý thuyết và thiếu liên kết trực tiếp với nhu cầu tuyển dụng thực tế của 135 dự án khu công nghiệp trên địa bàn.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các hạn chế trên xuất phát từ việc thiếu vắng một chiến lược chuyển đổi nghề nghiệp dài hạn được chuẩn bị trước khi ra quyết định thu hồi đất. Chính quyền các cấp chủ yếu tập trung vào khâu bồi thường vật chất và bàn giao mặt bằng cho nhà đầu tư mà chưa thiết lập cơ chế ràng buộc trách nhiệm tuyển dụng của doanh nghiệp đối với cộng đồng bản địa.

Khi so sánh với các công trình nghiên cứu kinh tế về sinh kế ven đô tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả nghiên cứu tại Hải Phòng có sự tương đồng rõ rệt về xu hướng lãng phí dòng tiền bồi thường và tình trạng già hóa lao động thất nghiệp. Tuy nhiên, Hải Phòng có lợi thế đặc thù của một đô thị cảng biển công nghiệp với khối lượng luân chuyển hàng hóa đạt trên 15 triệu tấn mỗi năm, mở ra dư địa rất lớn cho các ngành dịch vụ vận tải, kho bãi, cơ khí phụ trợ và hậu cần hàng hải nếu có sự định hướng đào tạo chuẩn xác.

Thực tế dữ liệu cho thấy sự chênh lệch lớn giữa các nhóm dân cư, điều này có thể được minh họa trực quan qua biểu đồ cơ cấu sử dụng tiền đền bù và bảng tổng hợp trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động. Các biểu đồ so sánh chỉ ra rằng nhóm lao động dưới 35 tuổi có khả năng chuyển đổi nghề thành công đạt trên 70%, trong khi nhóm trên 45 tuổi đối mặt với tỷ lệ mất việc làm kéo dài lên tới hơn 80%, khẳng định yêu cầu cấp bách phải phân tầng chính sách hỗ trợ theo nhóm đối tượng.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm tăng cường vai trò của Nhà nước trong việc bảo đảm sinh kế bền vững cho người dân bị thu hồi đất tại thành phố Hải Phòng, bốn nhóm giải pháp đột phá được đề xuất:

Thứ nhất, hoàn thiện công tác quy hoạch không gian kinh tế và sử dụng đất đai gắn chặt với kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực. Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng cùng Sở Quy hoạch - Kiến trúc cần rà soát 100% các dự án thu hồi đất, ưu tiên quỹ đất phát triển các khu đô thị vệ tinh quy mô vừa và nhỏ để giãn mật độ dân cư và kích cầu thương mại nông thôn, phấn đấu nâng tỷ lệ sử dụng đất công nghiệp hiệu quả đạt trên 85% trước năm 2015.

Thứ hai, đổi mới chính sách đào tạo nghề và gắn kết trách nhiệm tuyển dụng của doanh nghiệp. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì cấp thẻ học nghề miễn phí có giá trị sử dụng trong 24 tháng cho mọi lao động mất đất; đồng thời ban hành quy chế bắt buộc các doanh nghiệp trong khu công nghiệp, khu chế xuất phải tiếp nhận tối thiểu 20% đến 30% lao động địa phương vào các vị trí việc làm phù hợp, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo kỹ thuật đạt mức 60% vào năm 2015.

Thứ ba, mở rộng quy mô tín dụng ưu đãi và đa dạng hóa ngành nghề sinh kế. Ngân hàng Chính sách Xã hội chi nhánh Hải Phòng cần nâng mức cho vay vốn tín chấp từ 20 triệu đồng lên tối thiểu 50 triệu đồng mỗi hộ, kéo dài chu kỳ vay lên 3 đến 5 năm trong giai đoạn 2009–2012, hỗ trợ lãi suất thấp để khuyến khích phát triển tiểu thủ công nghiệp, làng nghề đúc đồng Thủy Nguyên, chiếu cói và các mô hình trang trại nông nghiệp công nghệ cao.

Thứ tư, thành lập bộ máy chuyên trách liên ngành và tăng cường thanh tra, giám sát an sinh. Ủy ban nhân dân các quận, huyện thành lập Tổ công tác chuyên trách giải quyết việc làm cho người mất đất trực thuộc Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, đảm nhận nhiệm vụ phân loại dữ liệu nhân khẩu học, tư vấn hướng nghiệp và giám sát minh bạch 100% các khâu chi trả bồi thường, tái định cư nhằm ngăn chặn sai phạm và bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn sâu sắc cho bốn nhóm đối tượng chính:

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước, bao gồm Ủy ban nhân dân các cấp, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Tài nguyên và Môi trường. Luận văn cung cấp khung tham chiếu khoa học và hệ thống dữ liệu thực nghiệm để xây dựng các phương án bồi thường, hỗ trợ sinh kế và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội đô thị một cách hài hòa, hạn chế tối đa khiếu kiện đất đai.

Nhóm thứ hai là ban quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất và các nhà đầu tư hạ tầng dự án. Tài liệu hỗ trợ các chủ đầu tư xây dựng chương trình trách nhiệm xã hội, hoạch định chiến lược tuyển dụng và liên kết đào tạo nghề tại chỗ cho người dân bản địa, qua đó đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng và tối ưu hóa chi phí nhân sự.

Nhóm thứ ba là đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên và học viên sau đại học chuyên ngành Kinh tế chính trị, Kinh tế phát triển và Quản lý công. Đây là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp tiếp cận đa chiều, mô hình hóa sự tương tác giữa chính sách công và thị trường lao động trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Nhóm thứ tư là các tổ chức đoàn thể xã hội, hiệp hội làng nghề và cán bộ khuyến nông. Công trình giúp các đơn vị này định hình những chương trình tư vấn hướng nghiệp, hỗ trợ vay vốn chuyển đổi mô hình kinh doanh hộ gia đình và xây dựng các dịch vụ phục vụ đời sống đô thị cho người nông dân mất đất.

Câu hỏi thường gặp

Quá trình đô thị hóa tại thành phố Hải Phòng đã tác động như thế nào đến thị trường lao động nông nghiệp? Trong giai đoạn nghiên cứu, việc thu hồi gần 20.000 ha đất để mở rộng 7 quận đô thị và phát triển các khu công nghiệp đã khiến hơn 73.000 lao động nông thôn mất đất canh tác. Cứ 1 ha đất thu hồi làm mất việc làm của khoảng 10 đến 13 người, đặt ra áp lực chuyển đổi nghề nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ rất lớn cho chính quyền địa phương.

Vì sao phần lớn người nông dân sau khi nhận tiền đền bù đất gặp khó khăn trong việc duy trì thu nhập bền vững? Thực tế điều tra cho thấy hơn 62% nguồn tiền đền bù bị tiêu dùng vào việc xây nhà và mua sắm tài sản cố định không sinh lời, trong khi chỉ khoảng 23% được tái đầu tư sản xuất. Thêm vào đó, trên 87,5% lao động là lao động phổ thông chưa qua đào tạo kỹ thuật, thiếu tác phong công nghiệp và kỹ năng kinh doanh nên dễ rơi vào cảnh thất nghiệp sau vài năm tiêu hết tiền bồi thường.

Luận văn vận dụng các lý thuyết kinh tế kinh điển nào để giải quyết vấn đề việc làm? Tác giả kết hợp lý thuyết kích cầu việc làm qua đầu tư công của Keynes cùng mô hình dịch chuyển lao động nông nghiệp sang công nghiệp của Lewis và lý thuyết việc làm mùa vụ của Oshima. Hệ thống lý thuyết này chứng minh rằng việc làm không thể tự giải quyết bằng cơ chế thị trường thuần túy mà bắt buộc phải có sự định hướng, trợ cấp và điều tiết chủ động từ Nhà nước.

Chính sách tài chính và tín dụng cần được đổi mới như thế nào để hỗ trợ người mất đất hiệu quả? Công trình đề xuất nâng hạn mức vay vốn tín chấp từ mức 20 triệu đồng lên tối thiểu 50 triệu đồng mỗi hộ tại Ngân hàng Chính sách Xã hội, kéo dài thời gian vay từ 2 năm lên 3 đến 5 năm. Đồng thời, Nhà nước cần áp dụng cơ chế cấp phát kinh phí đào tạo nghề trực tiếp đến người học thông qua thẻ học nghề có thời hạn 24 tháng.

Mô hình kinh nghiệm nào trên thế giới và trong nước có thể áp dụng thành công tại Hải Phòng? Nghiên cứu đúc kết bài học từ việc Trung Quốc phát triển các xí nghiệp hương trấn tạo ra 36,8% sản lượng công nghiệp để giữ chân hơn 30 triệu lao động tại nông thôn, kết hợp với mô hình ràng buộc chỉ tiêu tiếp nhận lao động địa phương của Đà Nẵng và chính sách tín dụng ưu đãi của Hà Nội nhằm thiết lập giải pháp chuyển dịch sinh kế phù hợp.

Kết luận

Công trình nghiên cứu đã hoàn thành toàn diện mục tiêu khoa học với các đóng góp cốt lõi:

  • Hệ thống hóa sâu sắc cơ sở lý luận về vai trò quản trị, điều tiết của Nhà nước đối với thị trường việc làm trong tiến trình đô thị hóa tại các nền kinh tế chuyển đổi.
  • Phân tích thực chứng bức tranh thu hồi gần 20.000 ha đất và sự biến động sinh kế của hơn 73.000 lao động tại thành phố Hải Phòng giai đoạn 2000–2007.
  • Chỉ rõ điểm nghẽn then chốt là cơ cấu sử dụng tiền bồi thường thiếu định hướng sinh kế và tỷ lệ trên 87,5% lao động chưa qua đào tạo nghề chính quy.
  • Xây dựng mô hình phối hợp ba bên đồng bộ giữa cơ quan quản lý Nhà nước, doanh nghiệp sử dụng đất và người lao động bị thu hồi đất.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá về quy hoạch, giáo dục nghề nghiệp, tín dụng ưu đãi và bộ máy chuyên trách với lộ trình thực hiện chi tiết đến năm 2015 và tầm nhìn 2020.

Trong giai đoạn tiếp theo, các địa phương cần khẩn trương số hóa dữ liệu lao động mất đất và ban hành bộ chỉ số đánh giá an sinh sinh kế định kỳ hàng năm. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp hãy tích cực tham khảo, ứng dụng các luận cứ của luận văn để chung tay kiến tạo một tiến trình đô thị hóa thịnh vượng và công bằng xã hội.