CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI MÔ HÌNH KINH TẾ CHIA SẺ TRONG LĨNH VỰC VẬN TẢI 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về mô hình kinh tế chia sẻ Sự phát triển của mô hình kinh tế chia sẻ tạo động lực nghiên cứu đối với rất nhiều học giả và các nhà làm chính sách trên thế giới. Vì đây là mô hình kinh tế mới, nhiều học giả đã đưa ra các khái niệm và xác định các đặc điểm của mô hình kinh tế này theo các nghiên cứu cụ thể của mình.
Skjelvik & cộng sự (2017) đã có những nghiên cứu rất cụ thể về nền kinh tế chia sẻ tại các quốc gia Bắc Âu. Nghiên cứu đã đưa ra các khái niệm và đặc điểm cơ bản về nền kinh tế chia sẻ và các lợi ích của loại hình kinh tế này. Cụ thể, các tác giả coi rằng <kinh tế chia sẻ= đã trở thành một mô hình kết nối giữa những các cá nhân và / hoặc pháp nhân khác nhau trao đổi dịch vụ và / hoặc chia sẻ hàng hóa, tài sản, tài nguyên, năng lực hoặc vốn thông qua các nền tảng kỹ thuật số. Nghiên cứu chỉ ra một số đặc điểm cơ bản của mô hình kinh tế chia sẻ như đây là một mô hình kinh doanh mới thông qua kỹ thuật số, người tham gia có thể giảm chi phí giao dịch, giảm quyền sở hữu tư nhân và tăng việc thuê mượn các hàng hóa, dịch vụ.
Nghiên cứu tập trung vào 4 lĩnh vực chính của nền kinh tế chia sẻ, bao gồm: vận tải, nơi lưu trú, hàng hóa nhỏ lẻ và dịch vụ. Nghiên cứu cũng nói đến thực trạng hoạt động của các hình thức kinh tế này. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ tập trung vào việc đánh giá ảnh hưởng tới môi trường của nền kinh tế chia sẻ cũng như đưa ra các giải pháp phát triển kinh tế chia sẻ để cải thiện môi trường. Trong đó kinh tế chia sẻ lĩnh vực vận tải được đánh giá có tác động tốt nhất tới môi trường khi giảm được lượng khí thải từ xe cộ.
Tomasz Kasprowicz (2016) cũng đưa ra những góc nhìn riêng về khái niệm và đặc điểm của nền kinh tế chia sẻ. Ông cho rằng kinh tế chia sẻ là một thị trường cho thuê tài sản vật chất hoặc nguồn vốn với các dịch vụ kèm theo thông qua Internet bằng các kênh ngang hàng. Thị trường này có thể bao gồm một số lĩnh vực như kinh doanh bán lẻ (ví dụ: qua eBay); chia sẻ phần mềm (ví dụ: thông qua mạng torrent 6 hoặc nền tảng cụ thể như Windows Store); tiền ảo (Bitcoin); chia sẻ kiến thức (ví dụ: Các khóa học trực tuyến hoặc Wikipedia); cho thuê lao động (ví dụ: TaskRabbit hoặc Handy); thị trường tài chính ngang hàng (huy động vốn từ cộng đồng, ví dụ như Kickstarter); cho thuê tài sản (ví dụ: Airbnb) …. Nghiên cứu đưa ra các góc nhìn về nền kinh tế chia sẻ trên các mặt về lợi nhuận, vốn, cách đánh giá, triển vọng phát triển và sự quản lý của nhà nước về mặt luật pháp và thuế.
Theo tác giả, việc quản lý kinh tế chia sẻ thông qua thuế là rất khó khăn do khó phân biệt được giữa kinh doanh và hoạt động chia sẻ đơn thuần, cũng như khó xác định quy mô hoạt động của một nhà cung cấp trong nền kinh tế chia sẻ. Buda Gabriella & Lehota József (2016) đã đưa ra một cái nhìn tổng quan về các đặc điểm và các nguồn lực kinh tế - xã hội của mô hình kinh tế chia sẻ. Nghiên cứu nhận thấy sự thành công của mô hình này được hỗ trợ bởi hệ thống đánh giá chất lượng của các nhà cung cấp dịch vụ. Dựa trên việc nghiên cứu thị trường, bài viết đưa ra các ảnh hưởng của thái độ và động lực của khách hàng liên quan đến việc quyết định tham gia vào nền kinh tế chia sẻ.
Kết quả của nghiên cứu chứng minh rằng khách hàng sử dụng dịch vụ chia sẻ nhiều hơn nếu họ có tính hướng ngoại và năng động, ngoài ra, một số yếu tố ảnh hưởng có thể kể đến như thời gian phản hồi của doanh nghiệp, uy tín doanh nghiệp, kinh nghiệm cá nhân khách hàng…. Hoàng Văn Cương (2020) cho rằng mô hình kinh tế chia sẻ là một hình thức kinh doanh ngang hàng, phát triển nhờ vào công nghệ số, giúp người tham gia tiết kiệm chi phí giao dịch và tiếp cận số lượng lớn khách hàng thông qua một nền tảng. Mô hình này tại Việt Nam đã đạt một số thành công như quy mô thị trường tăng trưởng một cách nhanh chóng với 6.500 cơ sở tham gia Airbnb ở Việt Nam năm 2017, mô hình chia sẻ xe đã vận chuyển được hàng chục triệu lượt hành khách, trong khi Nhà nước không hề mất tiền để tài trợ phát triển loại hình này, mà hoàn toàn do xã hội hoá… Tuy nhiên, mô hình này cũng kéo theo nhiều vấn đề lớn như nhiều văn bản pháp luật của Việt Nam chưa có quy định cụ thể liên quan đến kinh tế chia sẻ, một vài trường hợp cụ thể như việc cấp giấy phép kinh doanh còn gặp khó khăn do nhiều hoạt động vẫn chưa có trong danh mục kinh doanh hiện tại. Trần Minh Phương (2020) đưa ra khái niệm riêng về kinh tế chia sẻ.
Tác giả coi 7 kinh tế chia sẻ là một sự tái thiết kinh tế trong đó các cá nhân giấu danh tính có thể sử dụng tài sản và dịch vụ nhàn rỗi (bao gồm cả những thứ vô hình - chẳng hạn như kỹ năng và thời gian cá nhân) của người khác thông qua các ứng dụng hoặc các nền tảng trên internet. Mô hình này có ba đặc điểm giúp nó phát triển nhanh tại Việt Nam như: khách hàng chỉ cần được chia sẻ thay vì sở hữu tài sản để được sử dụng tài sản, mạng lưới người tiêu dùng được liên kết dễ dàng và các ứng dụng điện tử phát triển mạnh. Nghiên cứu này tập trung vào kinh tế chia sẻ trong lĩnh vực du lịch. Tác giả đã chỉ ra các tác động của mô hình kinh tế chia sẻ tới ngành du lịch của Việt Nam, như sự ảnh hưởng tới môi trường kinh doanh lưu trú truyền thống và các ảnh hưởng tới nhóm khách hàng khi họ có thêm nhiều phương án lựa chọn trong du lịch.
Tác giả cũng đưa ra một số kiến nghị nhỏ cho nhà nước trong việc quản lý ngành du lịch khi đứng trước sự phát triển của kinh tế chia sẻ, như việc hoàn thiện bộ máy quản lý, xây dựng môi trường cạnh tranh bình đẳng, chú trọng công tác an ninh mạng… Hà Quang Thanh (2020) lại đưa ra một góc nhìn đa chiều về kinh tế chia sẻ. Bài nghiên cứu đã đưa ra quá trình phát triển của mô hình kinh doanh này trên thế giới, cũng như một khái niệm khác về kinh tế chia sẻ. Theo tác giả, kinh tế chia sẻ là một hệ thống kinh tế đề cao chia sẻ và hợp tác hơn tư hữu và con người thay vì sở hữu để thỏa mãn nhu cầu của mình thì sẽ tìm những nguồn lực trong cộng đồng. Tác giả chỉ ra rằng nhờ mô hình kinh tế chia sẻ, nguồn lực xã hội đã được sử dụng hiệu quả hơn bằng cách khai thác tối đa thời gian sử dụng một vật phẩm.
Bài nghiên cứu cũng đã liệt kê ra một số mô hình kinh tế chia sẻ phổ biến trên thế giới như chia sẻ xe, kỹ năng, vốn, tư liệu sản xuất… và chỉ ra các khó khăn khi vận hành mô hình này. Những khó khăn này có thể tác động đến các doanh nghiệp truyền thống, chính quyền, người tiêu dùng trong nhiều khía cạnh như cung cầu, niềm tin, thanh toán, công nghệ hoặc công bằng xã hội. Đối với lĩnh vực vận tải, đã có một số các nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá mô hình này dưới nhiều góc độ. (2019) đã tập trung phân tích về ý nghĩa của nền kinh tế chia sẻ đối với giao thông vận tải 8 thông qua phân tích các tài liệu về chia sẻ vận tải bao gồm các báo cáo của chính phủ và nhà tư vấn, các trang web và tạp chí học thuật.
Nghiên cứu này thảo luận về tác động của việc chia sẻ trong giao thông, cho thấy nó có thể là một phần của giải pháp cho các vấn đề giao thông và tắc nghẽn giao thông, có lẽ kết hợp với những phát triển khác như phương tiện không người lái. Nó cũng cảnh báo về sự nguy hiểm của việc quản lý quá mức và dưới mức quy định. Hossain & Mozahem (2022) đã đánh giá nhận thức của người lái xe về kinh tế chia sẻ trong lĩnh vực vận tải thông qua phỏng vấn trực tiếp người lái xe chia sẻ. Nghiên cứu này đã cung cấp một số hiểu biết sâu sắc về những khó khăn của tài xế và những rắc rối của khách hàng gặp phải khi tham gia vào mô hình chia sẻ xe.
Tổng quan các công trình nghiên cứu về các yếu tố tác động tới mô hình kinh tế chia sẻ Cũng có nhiều học giả tập trung vào tìm hiểu thực trạng phát triển, các cơ hội, thách thức khi phát triển mô hình kinh tế chia sẻ, cũng như các nhân tố ảnh hưởng tới mô hình kinh doanh này. Virginija Grybaitė & cộng sự (2018) đã nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố chính liên quan đến sự tăng trưởng của mô hình kinh tế chia sẻ và xác định tầm quan trọng của các yếu tố đó tại một số nước châu Âu. Qua đó, các tác giả đã biên soạn một bộ chỉ số và sử dụng chúng cho mục đích nghiên cứu. Các tác giả đã nghiên cứu các chỉ số về công nghệ, kinh tế, chính trị, luật pháp và văn hóa xã hội tại Litva, Latvia, Estonia và Vương quốc Anh và xác định rằng yếu tố công nghệ và môi trường văn hóa xã hội là 2 yếu tố có tác động lớn nhất đến nền kinh tế chia sẻ.
Dervojeda & cộng sự (2013) đưa ra một số nguyên nhân thúc đẩy sự phát triển kinh tế chia sẻ, bao gồm khủng hoảng kinh tế, sự phát triển của công nghệ và niềm tin của người tiêu dùng. Một số đặc điểm của nền kinh tế chia sẻ được các tác giả đưa ra như sự thành công của doanh nghiệp trong lĩnh vực này phụ thuộc vào văn hóa và đặc điểm của thị trường từng địa phương, thiếu chế tài pháp luật liên quan và thiếu liên kết với các đối tác cùng ngành.