PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Hệ thống giao thông vận tải (GTVT) đƣợc ví nhƣ mạch máu trong cơ thể, nền kinh tế của mỗi quốc gia muốn phát triển ổn định thì vấn đề phát triển mạng lƣới GTVT có ý nghĩa rất quan trọng. Trong thời gian qua, mạng lƣới GTVT đã xây dựng mới và nâng cấp đƣợc nhiều công trình giao thông quan trọng nhƣ sân bay, bến cảng và các tuyến quốc lộ huyết mạch nhƣ: cao tốc Hà Nội - Ninh Bình, Sài Gòn - Trung Lƣơng, Hà Nội - Lào Cai, Hà Nội - Hải Phòng, đƣờng Hồ Chí Minh, quốc lộ N2, đƣờng N2B. là yếu tố căn bản góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc và mở rộng giao thƣơng với nƣớc ngoài.
Đồng Tháp là tỉnh nằm trong vùng đồng bằng sông Cửu Long có hệ thống giao thông khá phong phú với Quốc lộ 30 giáp Quốc lộ 1 tại ngã 3 An Hữu (Cái Bè- Tiền Giang) chạy dọc theo bờ Bắc sông Tiền, Quốc lộ 80 từ cầu Mỹ Thuận nối Hà Tiên đi qua các tỉnh Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ và Kiên Giang, Quốc lộ 54 chạy dọc theo sông Hậu nối Đồng Tháp với Vĩnh Long và Trà Vinh, tuyến đƣờng N2 nối Quốc lộ 22 và Quốc lộ 30 xuyên qua khu vực Đồng Tháp Mƣời là một phần của tuyến đƣờng Hồ Chí Minh xuyên suốt Bắc Nam. Cùng với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa để phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng các Khu công nghiệp, Cụm công nghiệp, thu hút đầu tƣ trong và ngoài nƣớc, vấn đề phát triển công trình GTĐB đƣợc xác định là mục tiêu cấp bách, thƣờng xuyên của tỉnh. Nhận thức rõ vai trò quan trọng của hệ thống giao thông đƣờng bộ (GTĐB) nói chung và công trình GTĐB nói riêng, chính quyền tỉnh Đồng Tháp đã chủ trƣơng ƣu tiên đầu tƣ phát triển hạ tầng giao thông, đáp ứng yêu cầu GTVT đi trƣớc “mở đƣờng" để tạo tiền đề thúc đẩy kinh tế phát triển. Trong những năm qua, công trình GTĐB ở tỉnh Đồng Tháp đã có sự phát triển đáng kể, công trình GTĐB không ngừng đƣợc mở rộng, nâng cấp đã kéo các tỉnh trong khu vực (Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, An Giang và thành phố Cần Thơ) xích lại gần nhau hơn.
Đồng 1 Luan van thời giảm dần chênh lệch về khoảng cách để phát triển kinh tế giữa các huyện trong tỉnh. Kết quả đạt đƣợc về phát triển công trình GTĐB trong những năm qua ở tỉnh Đồng Tháp đã hình thành mạng lƣới giao thông gắn kết giữa giao thông quốc gia và giao thông địa phƣơng xuống đến huyện, xã kết hợp với chƣơng trình xây dựng nông thôn mới. Thực tế hiện nay, hạ tầng giao thông ở nhiều nơi vẫn còn bất cập, không ít dự án xuống cấp nghiêm trọng. Tại Hà Nội và nhiều khu vực khác nhƣ Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long, vùng Trung du phía Bắc, nhu cầu về đầu tƣ hạ tầng giao thông rất lớn nhƣng ngân sách Nhà nƣớc còn hạn hẹp.
Thế nhƣng, việc đầu tƣ phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông, chất lƣợng công trình GTĐB của nƣớc ta còn nhiều hạn chế, yếu kém, lạc hậu. Không những thế còn mất cân đối trong đầu tƣ phát triển các loại hình giao thông; nhiều công trình chậm tiến độ, suất đầu tƣ cao, gây phản ứng gay gắt trong dƣ luận xã hội. Những hạn chế, yếu kém trên có nguyên nhân khách quan và chủ quan; có nội dung, nguyên nhân từ chính sách pháp luật chƣa đồng bộ nhƣng cũng có điểm xuất phát từ khâu điều hành, quản lý… Bên cạnh những kết quả đã đạt đƣợc, công tác quản lý nhà nƣớc (QLNN) về đầu tƣ xây dựng (ĐTXD) công trình GTĐB bộ từ ngân sách nhà nƣớc (NSNN) tại tỉnh Đồng Tháp vẫn còn những hạn chế, yếu kém. Tuy đƣợc phân cấp mạnh về QLNN đối với ĐTXD công trình GTĐB từ NSNN ở cấp tỉnh, nhƣng trong quá trình triển khai thực hiện bộc lộ những hạn chế về cơ chế phối hợp trong quản lý, điều hành, phân bổ nguồn lực, công tác kiểm tra, giám sát ở mức độ nhất định vẫn còn mang tính chất hình thức, việc xử lý các vi phạm gây lãng phí, thất thoát vốn NSNN chƣa nghiêm.
Từ thực tế đó, nâng cao chất lƣợng và hiệu quả QLNN về đầu tƣ xây dựng công trình GTĐB từ NSNN là vấn đề cấp thiết hiện nay. Vì thế, tôi chọn đề tài “Nâng cao công tác quản lý nhà nƣớc về đầu tƣ xây dựng công trình giao thông đƣờng bộ từ ngân sách nhà nƣớc tại tỉnh Đồng Tháp” làm đề tài luận văn của mình. Đề tài này thực sự có ý nghĩa cả về lý luận và thực tế. Các công trình nghiên cứu có liên quan - “Hoàn thiện quản lý nhà nƣớc đối với đầu tƣ xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách trong ngành giao thông vận tải Việt Nam” luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Bình (2012).
Luận án tiếp cận QLNN đối với đầu tƣ xây dựng cơ bản từ vốn NSNN theo 5 khâu quản lý và 4 nhóm nhân tố ảnh hƣởng. Các khâu và các nhân tố đƣợc phân tích, luận giải làm khung lý luận cơ bản khi nghiên cứu luận án. Từ xây dựng khung lý luận về QLNN đối với đầu tƣ xây dựng cơ bản, luận án tiếp tục đi sâu phân tích để hoàn thiện các chuẩn (yêu cầu) của quá trình đầu tƣ xây dựng cơ bản dƣới sự tác động của các yếu tố môi trƣờng luật pháp, cơ chế chính sách, tổ chức quản lý, năng lực bộ máy và thanh tra, kiểm tra giám sát đầu tƣ xây dựng cơ bản từ nguồn vốn NSNN trong ngành GTVT. Trong đó, đặc biệt phân tích những hạn chế về QLNN trong sự phối, kết hợp giữa các khâu của quy trình quản lý và các cơ quan quản lý.
Sự yếu kém này dẫn đến hệ quả nhƣ lãng phí, thất thoát, chậm tiến độ các dựa án ĐTXD công trình GTĐB. Qua đó, đƣa ra phƣơng hƣớng và đề xuất một số giải pháp có cơ sở lý luận và thực tiễn để hoàn thiện QLNN đối với đầu tƣ xây dựng cơ bản từ nguồn vốn NSNN trong ngành GTVT Việt Nam. - “Quản lý nhà nƣớc đối với dự án đầu tƣ xây dựng từ ngân sách nhà nƣớc ở Việt Nam” luận án tiến sĩ của tác giả Tạ Văn Khoái (2009). Bản luận án đã nghiên cứu, phân tích nội dung hoạt động QLNN đối với dự án đầu tƣ xây dựng từ NSNN trong các giai đoạn của quy trình dự án.
Phạm vi đề cập chủ yếu là ngân sách trung ƣơng trên địa bàn cả nƣớc. Hoạt động QLNN đối với dự án ĐTXD từ NSNN bao gồm 5 nội dung chủ yếu: hoạch định kế hoạch ĐTXD; xây dựng khung pháp luật; ban hành và thực hiện cơ chế; tổ chức bộ máy và kiểm tra, kiểm soát. Thông qua 5 nội dung chủ yếu đƣợc trình bày, luận án chỉ ra sự phù hợp về QLNN trong từng giai đoạn thực hiện quy trình dự án đầu tƣ, có dẫn liệu minh họa. Đồng thời, luận án còn chỉ ra nhiều hạn chế, bất cập trong từng giai đoạn của quá trình QLNN đối với dự án ĐTXD từ NSNN.
Luận án chỉ ra 3 nhóm nguyên nhân của những hạn chế, bất cập đó, trong đó nhấn mạnh nhất đến xây dựng khung khổ pháp luật là nguyên nhân cơ bản nhất. Qua đó, đề xuất 6 nhóm giải pháp nhằm đổi mới quản lý nhà nƣớc đối với dự án đầu tƣ xây dựng từ ngân sách nhà nƣớc trong thời gian tới. 3 Luan van - “Diagnostic Framework for Assessing Public Investment Management”, “Khung chuẩn đoán cho đánh giá quản lý đầu tƣ công” của Anand Rajaram, Tuan Minh Le, Nataliya Biletska và Jim Brumby (2010). Từ tổng kết thực tiễn về các nội dung QLNN về đầu tƣ xây dựng cơ bản nói chung và QLNN về chi tiêu công cho đầu tƣ xây dựng cơ bản, kết hợp với các lý thuyết quản lý hiện đại để đề xuất các tiêu chí đánh giá cả định tính và định lƣợng về việc đánh giá hệ thống quản lý đầu tƣ công (ĐTC) cho các Chính phủ.
Đồng thời công trình nghiên cứu cũng khẳng định: Quản lý ĐTC có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy cần phải quan tâm tới quá trình lựa chọn chủ thể, biện pháp và đối tƣợng quản lý cụ thể tránh cách làm chung chung trong quản lý ĐTC. Nghiên cứu đã đề xuất 8 đặc trƣng cơ bản của một hệ thống ĐTC hiệu quả và xây dựng khung khổ chuẩn đoán khi đánh giá các giai đoạn chính trong quy trình quản lý ĐTC. Từ đó làm căn cứ để khuyến khích các chính phủ tiến hành công tác tự đánh giá hệ thống ĐTC của mình và đƣa ra những cải cách để tăng cƣờng hiệu quả của ĐTC.
- “Investing in Public Investment: An Index of Public Investment Efficiency”, “Đầu tƣ trong quá trình đầu tƣ công: những chỉ báo về hiệu quả của đầu tƣ công” của Zac Mills, Annette J Kyobe, Jim Brumby, Chris Papageorgiou và Era Dabla- Norris (2011). Công trình nghiên cứu đi sâu phân tích khung lý luận về đầu tƣ, trên cơ sở đó làm căn cứ so sánh đánh giá đầu tƣ công với các loại hình đầu tƣ khác. Kết luận nhìn từ góc độ quản lý cho thấy: QLNN về ĐTC có tính phức tạp, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý gắn với từng công đoạn của quy trình đầu tƣ. Đồng thời cũng chỉ ra cơ quan quản lý có vai trò, chức năng, nhiệm vụ nhƣ ngƣời tƣ lệnh đứng đầu và chịu trách nhiệm trƣớc cá nhân.
Khác với đầu tƣ tƣ nhân hoặc đầu tƣ liên kết công tƣ đều có những thuận lợi và khó khăn trên cơ sở đó làm căn cứ để đánh giá quy trình quản lý đầu tƣ về vốn. Nghiên cứu cũng đã đƣa ra các chỉ số cơ bản để đánh giá hiệu quả của ĐTC. Trong đó, nhấn mạnh thể chế phù hợp là cơ sở để quản lý đầu tƣ công đạt hiệu quả cao qua 4 giai đoạn khác nhau: thẩm định dự án; lựa chọn dự án; triển khai và đánh giá dự án. Từ các chỉ số xác định và thể chế quản lý qua các giai đoạn đƣợc tổng kết làm căn cứ khảo sát tại 71 quốc gia, 4 Luan van trong đó có 40 quốc gia có thu nhập thấp.
Và kết luận tổng quan về các chỉ số giữa các vùng cũng nhƣ các nhóm quốc gia khác nhau. Đồng thời xác định đƣợc những lĩnh vực mà các quốc gia có thể ƣu tiên tiến hành cải cách để nâng cao hiệu quả của ĐTC. Mục tiêu nghiên cứu Hệ thống hóa lý thuyết về ĐTXD công trình GTĐB từ NSNN cấp tỉnh.