Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO NÔNG DÂN 1. Khái niệm, mục đích, nguyên tắc, đặc điểm, vai trò và tầm quan trọng của phổ biến, giáo dục cho nông dân. Khái niệm nông dân Cho đến nay chúng ta vẫn khẳng định Việt Nam là một nước nông nghiệp, nông dân chiếm hơn 70% dân số cả nước. Người nông dân giàu lòng yêu nước, nhiệt tình cách mạng, chịu đựng gian khổ, hy sinh, lao động cần cù, sáng tạo và là đội quân chủ lực trong lịch sử đấu tranh lâu dài của dân tộc Việt Nam.
Theo Đại từ điển Tiếng Việt (Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin năm 1999) “Nông dân là người sống bằng nghề làm ruộng” [14, tr.1283], do đó khi nói về nông dân, có thể hiểu và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, nhưng khái niệm phổ biến nhất đó là: “Nông dân là những người cư trú ở khu vực nông thôn và tham gia sản xuất nông nghiệp và các ngành nghề khác mà tư liệu sản xuất chính là đất đai”. Trong sự phát triển đời sống xã hội của đất nước, giai cấp nông dân Việt Nam đóng một vai trò quan trọng góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng sống của toàn xã hội. Hiện nay, nông dân đang là lực lượng chủ lực trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, là lực lương nòng cốt xây dựng nông thôn mới, nông thôn kiểu mẫu. Lịch sử Việt Nam ghi nhận giai cấp nông dân đã được hình thành từ rất sớm.
Trong thời kì phong kiến, họ là nhưng người làm thuê cho phú nông và địa chủ để sản xuất nông nghiệp. Khi đời sống xã hội dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất nói chung và đất đai nói riêng, họ là những người sống lâu đời ở nông thôn và lấy sản xuất nông nghiệp làm nguồn sống chính dưới hình thức tư hữu tư nhân nhỏ. 8 Luan van Kể từ năm 1930, khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời và trong quá trình phát triển, Đảng giữ vai trò lãnh đạo cách mạng Việt Nam thì giai cấp nông dân là lực lượng quan trọng trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định vai trò của quần chúng nhân dân lao động là người quyết định, người sáng tạo nên lịch sử xã hội [9, tr.
Ở nước ta, nông dân là một bộ phận dân cư chiếm số đông trong cơ cấu lao động và là động lực cách mạng xã hội chủ nghĩa. Chính họ đã trực tiếp tạo ra của cải nuôi sống xã hội. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm đến nông dân - lực lượng to lớn của cách mạng. Người khẳng định nông dân Việt Nam là gốc của cách mạng Việt Nam, là thành phần chủ đạo trong khối đại đoàn kết toàn dân thực hiện nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ và xây dựng chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nhờ có sự lãnh đạo đó, giai cấp nông dân Việt Nam đã phát huy được những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đặc biệt trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nông dân ngày càng có vai trò quan trọng góp phần vào công cuộc đổi mới, xây dựng một nước Việt Nam ngày một phát triển và giàu mạnh. Khái niệm, mục đích của phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân. Theo Đại từ điển Tiếng Việt (NXB Văn hóa - Thông tin năm 1999) “Phổ biến là truyền đạt rộng khắp làm cho nhiều người cùng biết” [14, tr. Phổ biến được hiểu theo nghĩa động từ đó là: “ Làm cho đông đảo mọi người biết đến một vấn đề, sự kiện, nhân vật nào đó bằng cách truyền đạt rộng khắp thông qua các phương thức truyền thông tin trực tiếp và gián tiếp” Theo Từ điển Tiếng Việt (NXB Đà Nẵng - Trung tâm Từ điển, năm 2003) “Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh 9 Luan van thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra” [51, tr.
Theo Cẩm nang công tác PBGPL thì: Giáo dục pháp luật là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định của chủ thể giáo dục tác động lên đối tượng giáo dục một cách có hệ thống và thường xuyên nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm pháp lý và hành vi phù hợp với các đòi hỏi của pháp luật hiện hành [8, tr. Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, phục vụ và bảo vệ quyền lợi của các tầng lớp dân cư trong xã hội. Như vậy ta có thể hiểu phổ biến, giáo dục pháp luật theo nghĩa hẹp là: giới thiệu tinh thần văn bản pháp luật cho người có nhu cầu; theo đó phổ biến, giáo dục pháp luật là việc truyền bá pháp luật cho đối tượng nhằm nâng cao tri thức, tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng. Hiểu theo nghĩa rộng: phổ biến, giáo dục pháp luật là một khâu của hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật, là hoạt động định hướng có tổ chức, có chủ định thông qua các hình thức giáo dục, thuyết phục, nêu gương nhằm mục đích hình thành ở đối tượng tri thức pháp lý, tình cảm và hành vi xử sự phù hợp với các đòi hỏi của hệ thống pháp luật hiện hành với các hình thức, phương tiện, phương pháp đặc thù.
Vậy phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân là quá trình nhằm nâng cao dân trí pháp lý cho người nông dân nhằm ngăn ngừa, hạn chế các hành vi vi phạm pháp luật do thiếu kiến thức về pháp luật, đồng thời góp phần nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của nông dân. Mục đích của việc PBGDPL cho nông dân Công tác PBGDPL luôn có vị trí và vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa hiện nay, là một bộ phận của 10 Luan van công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự điều phối, tổ chức thực hiện của các cơ quan nhà nước và các tổ chức, đoàn thể; là khâu then chốt, quan trọng để chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước thực sự đi vào cuộc sống xã hội, đi vào ý thức, hành động của từng chủ thể trong xã hội. PBGDPL phải có bước đi thích hợp, không chạy theo phong trào, thành tích, mà cần đi vào chiều sâu, làm cho pháp luật thấm dần vào ý thức người dân, tạo dần thói quen tôn trọng và chấp hành pháp luật trong cuộc sống [57, tr. PBGDPL là cầu nối để chuyển tải pháp luật vào đời sống xã hội.
Thực hiện pháp luật dưới bất cứ hình thức nào - tuân thủ, thi hành (chấp hành) pháp luật, sử dụng (vận dụng) pháp luật hay áp dụng pháp luật thì mục đích mục đích PBGDPL cho nông dân đều có ý nghĩa cả về lý luận lẫn thực tiễn bởi lẽ: Thứ nhất, tạo điều kiện tốt nhất để nông dân hiểu biết về pháp luật, nếu không nhận thức đầy đủ vấn đề này và không thực hiện tốt công tác PBGDPL thì dù công tác xây dựng pháp luật có làm tốt đến mấy thì vấn đề thực thi pháp luật vẫn không đạt được hiệu quả. Trong thực tế đời sống, pháp luật không phải lúc nào cũng được người dân biết đến, tìm hiểu, ủng hộ và thực hiện nghiêm chỉnh. Mặc dù bản chất pháp luật của Nhà nước ta là tốt đẹp và nhân văn. Nó phản ánh ý chí, nguyện vọng, mong muốn của đại đa số quần chúng nhân dân.
Những mong muốn ấy phải được đông đảo người dân biết đến thì pháp luật mới đi vào cuộc sống. PBGDPL chính là phương tiện truyền tải những thông tin về pháp luật đến người dân, giúp họ hiểu biết chính xác, nắm bắt kịp thời mà không mất quá nhiều thời gian, công sức cho việc tự tìm hiểu, tự học tập. Đó chính là phương tiện hỗ trợ tích cực để nâng cao hiểu biết pháp luật cho nhân dân nói chung và nông dân nói riêng. 11 Luan van Thứ hai, phải hình thành lòng tin vào pháp luật của nông dân, pháp luật chỉ có thể được mọi người thực hiện nghiêm chỉnh khi họ tin tưởng vào những quy định của pháp luật.
Pháp luật được xây dựng là để bảo vệ quyền và lợi ích của nhân dân, đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng, đảm bảo công bằng và dân chủ xã hội. Khi nào người dân nhận thức đầy đủ được như vậy thì pháp luật không cần một biện pháp cưỡng chế nào mà mọi người vẫn tự giác thực hiện. Tạo lập niềm tin vào pháp luật cho mỗi người và cả cộng đồng đòi hỏi sự kết hợp của nhiều yếu tố. Một trong các yếu tố đóng vai trò quan trọng là PBGDPL để mọi người hiểu biết về pháp luật, hiểu biết về quá trình thực hiện và áp dụng pháp luật.
Pháp luật cũng như mọi hiện tượng khác trong xã hội bao giờ cũng có hai mặt, không phải lúc nào nó cũng thoả mãn hết, phản ánh được đầy đủ nguyện vọng, mong muốn của tất cả mọi người trong xã hội. Quá trình điều chỉnh pháp luật sẽ lấy lợi ích của đông đảo nhân dân trong xã hội làm tiêu chí, thước đo, do đó sẽ có một số ít không thoả mãn được. Chính các yếu tố hạn chế của các quy định pháp luật càng tạo nên sự cần thiết của công tác PBGDPL để mọi người hiểu đúng pháp luật, đồng tình ủng hộ pháp luật. Có như vậy mới hình thành lòng tin vào pháp luật của đông đảo nhân dân trong xã hội.
Thứ ba, nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật của nông dân. Ý thức pháp luật của người dân được hình thành từ hai yếu tố đó là tri thức pháp luật và tình cảm pháp luật. Tri thức pháp luật là sự hiểu biết pháp luật của các chủ thể có được qua việc học tập, tìm hiểu pháp luật, qua quá trình tích luỹ kiến thức của hoạt động thực tiễn và công tác.