phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề tài có kết cấu thành 3 chương, cụ thể: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về quản lý đầu tƣ xây dựng cơ bản Chƣơng 2. Thực trạng quản lý đầu tƣ xây dựng cơ bản của Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh Chƣơng 3. Giải pháp hoàn thiện quản lý đầu tƣ xây dựng cơ bản của Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh 5 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN 1.
Quản lý đầu tƣ xây dựng cơ bản 1.1 Khái niệm và nguyên tắc của quản lý đầu tƣ xây dựng cơ bản 1.1 Khái niệm quản lý đầu tư xây dựng cơ bản Quản lý nói chung là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý để điều khiển đối tượng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra. Thực chất của quản lý đầu tư xây dựng cơ bản là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý vào đối tượng đầu tư xây dựng cơ bản để điều khiển đối tượng đầu tư xây dựng cơ bản nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra.2 Nguyên tắc của quản lý đầu tư xây dựng cơ bản * Tuân thủ đúng quy định của Nhà nước về quản lý đầu tư xây dựng cơ bản Nguyên tắc này tác động trên các khía cạnh là: Tất cả các quyết định, trình tự, quy trình đều phải tuân thủ theo các quy định của Nhà nước (các Luật, Nghị định, Chị thị của cấp có thẩm quyền, Thông tư của các Bộ ngành và các Quyết định, Công văn của cơ quan quyết định đầu tư). Khi xây dựng các dự án phải đúng các chủ trương đầu tư thì mới quyết định đầu tư, đảm bảo sử dụng đúng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước, tính chính xác trong thiết kế, tổng dự toán, lựa chọn nhà thầu, thi công và quyết toán. * Đảm bảo đúng trình tự, quy trình của đầu tư xây dựng cơ bản Thực hiện đầy đủ các yêu cầu về trình tự, quy trinh của đầu tư xây dựng cơ bản là cơ sở để khắc phục những khó khăn, tồn tại do đặc điểm riêng có của hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản gây ra.
Những quy định về trình tự, đầu tư xây dựng có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến chất lượng công trình, chi phí xây dựng công trình trong quá trình thi công xây dựng và tác động của 6 z công trình sau khi hoàn thành xây dựng đưa vào sử dụng đối với đơn vị sử dụng đảm bảo đúng mục tiêu, mục đích đề ra trước đó. Do đó, nguyên tắc chấp hành đúng trình tự và quy trình đầu tư xây dựng có ảnh hưởng rất lớn vì có tính chất quyết định không những đối với chất lượng công trình, dự án đầu tư mà còn ảnh hưởng rất lớn đến sự lãng phí, thất thoát, tạo sơ hở cho tham nhũng về vốn và tài sản trong hoạt động đầu tư, xây dựng; từ đó dẫn đến làm tăng chi phí xây dựng công trình, dự án, hiệu quả đầu tư thấp. * Sử dụng đúng nguồn vốn ngân sách Nhà nước chi cho đầu tư phát triển: mục tiêu của quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước là bảo đảm sử dụng vốn đúng mục đích, đúng nguyên tắc, đúng tiêu chuẩn, chế độ quy định và có hiệu quả cao. Đối với vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước, hiệu quả không đơn thuần là lợi nhuận hay hiệu quả kinh tế nói chung mà là hiệu quả tổng hợp, hiệu quả kinh tế - xã hội.2 Nội dung quản lý đầu tƣ xây dựng cơ bản 1.1 Quy hoạch, kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản Quản lý quy hoạch chung, quy hoạch tổng thể vùng, quy hoạch chi tiết trong từng đơn vị, quy hoạch xây dựng chuyên ngành, quản lý xây dựng theo quy hoạch được duyệt, quản lý kiến trúc cảnh quan đô thị - hạ tầng, kiến trúc công trình.
Quản lý công tác quy hoạch tuân theo Nghị định số 08/2005/NĐ- CP của Chính phủ ngày 24 tháng 01 năm 2005 về quy hoạch xây dựng. Quản lý kế hoạch đầu tư xây dựng theo từng năm cụ thể, theo kế hoạch giải ngân vốn của từng dự án, theo phân kỳ thực hiện của từng dự án, từng công trình.2 Thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư Tất cả các dự án khi đã được duyệt chủ trương đầu tư đều được cơ quan chức năng thẩm định dựa trên các hồ sơ đơn vị gửi kèm theo có các ý kiến của các Bộ, Sở ban ngành chức năng. 7 z Khi có đủ các điều kiện về hồ sơ, điều kiện về năng lực Chủ đầu tư, Ban quản lý dự án và các yếu tố cần thiết khác mà cơ quan thẩm định yêu cầu theo quy định thì lúc đó dự án được phê duyệt dự án đầu tư xây dựng.3 Hướng dẫn, kiểm tra thực hiện công tác đầu tư xây dựng cơ bản Công việc hướng dẫn được cơ quan quản lý đầu tư xây dựng, thường là cơ quan quyết định đầu tư hướng dẫn đến các chủ đầu tư, các ban quản lý dự án về các điều kiện để thực hiện dự án, về thực hiện các văn bản của Nhà nước, về giải ngân vốn, về các thủ tục để chuẩn bị, thực hiện và kết thúc dự án. Bên cạnh việc hướng dẫn, cơ quan quản lý đầu tư thường xuyên kiểm tra đột xuất và kiểm tra thường xuyên, định kỳ 3 tháng một lần về tình hình thực hiện dự án, tình hình giải ngân vốn, về chất lượng công trình, về các vấn đề khúc mắc trong quá trình thi công cũng như thực hiện và điều hành dự án và thậm chí cả khâu quyết toán,… 1.4 Tạm ứng vốn, thanh toán vốn và quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản.
Việc tạm ứng và thanh toán vốn và quyết toán vốn tuân theo quy định của văn bản Nhà nước đã quy định. Về việc tạm ứng vốn, thanh toán vốn theo Thông tư số 86/2011/TT-BTC ngày 17 tháng 06 năm 2011 của Bộ Tài chính quy định về quản lý, thanh toán vốn đầu tư và vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư thuộc nguồn ngân sách nhà nước ; Việc quyết toán vốn theo Thông tư số 210/2010/TT-BTC ngày 20 tháng 12 năm 2010 của Bộ Tài chính quy định việc quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước theo niên độ ngân sách hàng năm. Mặc dù các công việc này đã có văn bản Nhà nước quy định nhưng cơ quan quản lý thường xuyên quản lý, đôn đốc, theo dõi tình hình thực hiện cũng như giải ngân vốn [9,10].5 Thẩm tra phê duyệt quyết toán Quản lý thẩm tra phê duyệt quyết toán từ khâu kết thúc dự án đưa dự án nghiệm thu và bàn giao công trình sử dụng trong khoảng 6 tháng đầu kể từ khi kết thúc và bàn giao công trình vào sử dụng đến khi quyết toán dự án xong. Chủ đầu tư lập hồ sơ quyết toán theo Thông tư số 19/2011/TT-BTC ngày 14 tháng 02 năm 2011 của Bộ Tài chính quy định về quyết toán dự án hoàn thành thuộc nguồn vốn nhà nước sau đó nộp hồ sơ cho cơ quan quyết định đầu tư và là cơ quan chủ quản để thẩm tra và phê duyệt quyết toán [11].6 Xây dựng bộ máy cán bộ quản lý đầu tư xây dựng cơ bản Bộ máy cán bộ quản lý đầu tư xây dựng cơ bản bao gồm các cán bộ thuộc cơ quan quyết định đầu tư, cán bộ thuộc các chủ đầu tư, cán bộ thuộc các ban quản lý dự án.
Chủ đầu tư và các ban quản lý dự án là chủ sở hữu hoặc là người được Nhà nước ủy quyền quản lý sử dụng vốn, sử dụng các công trình (nếu có) để thực hiện các dự án, các công trình. Chủ đầu tư có thể trực tiếp quản lý hoặc thành lập ban quản lý dự án để giúp chủ đầu tư thực hiện một số nhiệm vụ của chủ đầu tư và chịu trách nhiệm trước chủ đầu tư. Vì vậy, việc xây dựng bộ máy cán bộ quản lý đầu tư xây dựng cơ bản là nhiệm vụ hết sức quan trọng và có thể quyết định đến chất lượng công trình xây dựng, đến hiệu quả của dự án, của từng công trình.3 Tiêu chí đánh giá quản lý đầu tƣ xây dựng cơ bản * Đánh giá chất lượng công trình xây dựng, tiêu chí này đánh giá quản lý thông qua các tiêu chí cụ thể như: Quản lý nội dung khảo sát và kiểm tra báo cáo kết quả khảo sát; Quản lý chất lượng thiết kế xây dựng công trình; Quản lý chất lượng thi công của tổng thầu; Kiểm tra chứng nhận sự phù hợp chất lượng công 9 z trình; Bảo hành công trình xây dựng và bảo trì công trình. Các tiêu chí trên được quy định chi tiết tại Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày 16/12/2004 của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình và Nghị định số 49/2008/NĐ-CP ngày 18/4/2008 của Chính phủ về Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về Quản lý chất lượng công trình xây dựng.
Đến nay, Nghị định 209/2004/NĐ-CP đã được thay thế bởi Nghị định số 15/2013/NĐ-CP ngày 06 tháng 02 năm 2013 của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng [20]. * Hiệu quả sử dụng vốn Ngân sách Nhà nước : Đối với vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước, hiệu quả sử dụng vốn không chỉ đơn thuần là lợi nhuận hay hiệu quả kinh tế nói chung mà là hiệu quả tổng hợp, hiệu quả kinh tế - xã hội. Hiệu quả của vốn đầu tư xây dựng cơ bản được đo bằng một số chỉ tiêu sau: - Hiệu quả đầu tư được tính theo công thức: Kết quả đầu tư đạt được Hiệu quả đầu tư = Tổng số vốn đầu tư đã thực hiện Nếu lấy giá trị sản lượng hàng năm tăng thêm là kết quả thì chúng ta sẽ có công thức sau: ΔQ E= K Trong đó: E – Hiệu quả tương đối vốn đầu tư XDCB ΔQ – Mức tăng hàng năm giá trị sản lượng tăng thêm K – Tổng số vốn đầu tư XDCB đã thực hiện 10 z - Hệ số gia tăng tư bản – đầu ra (ICOR) được tính theo công thức ΔK ICOR = ΔY Trong đó: ΔK - Lượng vốn đầu tư tăng thêm ΔY – Lượng đầu ra thu được từ vốn đầu tư tăng thêm, trong nền kinh tế đó chính là ΔGDP, hay ΔGNP.