Luận án tiến sĩ vai trò nam giới dân tộc hmông vùng tây bắc trong chăm sóc sức khỏe sinh sản nghiên cứu trường hợp xã huổi một huyện sông mã tỉnh sơn la

Luận án tiến sĩ phân tích vai trò nam giới dân tộc H'Mông trong chăm sóc sức khỏe sinh sản tại xã Huổi Một, huyện Sông Mã, Sơn La.

Chuyên ngành

Xã hội học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2014

172
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Điểm luận một số nghiên cứu về chăm sóc sức khoẻ sinh sản nói chung

1.2. Điểm luận một số nghiên cứu về chăm sóc sức khoẻ sinh sản trong nhóm dân tộc thiểu số ở Việt Nam

1.3. Điểm luận một số nghiên cứu đề cập đến sự tham gia của nam giới trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

2.1. Các khái niệm công cụ

2.2. Vai trò xã hội

2.3. Sức khoẻ sinh sản và chăm sóc sức khoẻ sinh sản

2.4. Tiếp cận các lý thuyết xã hội học

2.5. Thuyết cơ cấu - chức năng

2.6. Lý thuyết về vai trò xã hội

2.7. Lý thuyết xã hội học về giới

2.8. Chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến chăm sóc sức khoẻ sinh sản

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG NAM GIỚI DÂN TỘC H’MÔNG XÃ HUỔI MỘT, HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA THỰC HIỆN VAI TRÒ CHĂM SÓC SỨC KHOẺ SINH SẢN

3.1. Vài nét về địa bàn nghiên cứu và những đặc điểm cơ bản của cộng đồng dân tộc H’Mông

3.1.1. Vài nét về địa bàn nghiên cứu

3.1.2. Đặc điểm cơ bản của cộng đồng dân tộc H’Mông

3.2. Vai trò của nam giới dân tộc H’Mông trong việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình

3.2.1. Nam giới nhận thức về vai trò của bản thân trong việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình

3.2.2. Nam giới thực hiện vai trò kế hoạch hoá gia đình

3.3. Vai trò của nam giới dân tộc H’Mông trong chăm sóc sức khoẻ bà mẹ mang thai

3.3.1. Nam giới nhận thức về vai trò của bản thân trong chăm sóc sức khoẻ bà mẹ mang thai

3.3.2. Nam giới thực hiện vai trò trong chăm sóc sức khoẻ bà mẹ mang thai

4. CHƯƠNG 4: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ THỰC HIỆN VAI TRÒ CHĂM SÓC SỨC KHOẺ SINH SẢN CỦA NAM GIỚI DÂN TỘC H’MÔNG XÃ HUỔI MỘT, HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

4.1. Nhóm yếu tố chủ quan

4.1.1. Độ tuổi và vai trò chăm sóc sức khoẻ sinh sản của nam giới dân tộc H’Mông

4.1.2. Trình độ học vấn và vai trò chăm sóc sức khoẻ sinh sản của nam giới dân tộc H’Mông

4.2. Nhóm yếu tố khách quan

4.2.1. Phong tục tập quán và vai trò chăm sóc sức khoẻ sinh sản của nam giới dân tộc H’Mông

4.2.2. Truyền thông với vai trò chăm sóc sức khoẻ sinh sản của nam giới dân tộc H’Mông

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về vai trò của nam giới H Mông trong chăm sóc sức khỏe sinh sản

Chăm sóc sức khỏe sinh sản là một vấn đề quan trọng trong phát triển cộng đồng, đặc biệt là ở các xã vùng sâu, vùng xa như xã Huổi Một, huyện Sông Mã. Nam giới dân tộc H'Mông đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các biện pháp chăm sóc sức khỏe sinh sản. Tuy nhiên, nhận thức và hành động của họ trong lĩnh vực này vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu này sẽ làm rõ vai trò của nam giới H'Mông trong chăm sóc sức khỏe sinh sản, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao nhận thức và trách nhiệm của họ.

1.1. Đặc điểm văn hóa và xã hội của người H Mông

Người H'Mông có một nền văn hóa phong phú với nhiều phong tục tập quán đặc trưng. Họ sống trong các cộng đồng khép kín, nơi mà vai trò của nam giới thường được coi trọng hơn. Điều này ảnh hưởng đến cách thức mà nam giới tham gia vào chăm sóc sức khỏe sinh sản, cũng như cách họ nhận thức về trách nhiệm của mình trong gia đình.

1.2. Tình hình chăm sóc sức khỏe sinh sản tại xã Huổi Một

Tại xã Huổi Một, tình hình chăm sóc sức khỏe sinh sản còn nhiều vấn đề cần giải quyết. Mức sinh cao, thiếu thông tin về sức khỏe sinh sản và sự tham gia hạn chế của nam giới là những thách thức lớn. Việc nâng cao nhận thức của nam giới về vai trò của họ trong chăm sóc sức khỏe sinh sản là rất cần thiết.

II. Thách thức trong việc thực hiện vai trò của nam giới H Mông

Mặc dù nam giới H'Mông có vai trò quan trọng trong chăm sóc sức khỏe sinh sản, nhưng họ vẫn gặp phải nhiều thách thức. Những rào cản về văn hóa, nhận thức và giáo dục đã hạn chế khả năng tham gia của họ. Việc thiếu thông tin và sự hỗ trợ từ cộng đồng cũng là một yếu tố quan trọng.

2.1. Rào cản văn hóa đối với nam giới H Mông

Văn hóa H'Mông thường coi trọng vai trò của nam giới trong gia đình, nhưng lại không khuyến khích họ tham gia vào các hoạt động chăm sóc sức khỏe sinh sản. Điều này dẫn đến việc nam giới không nhận thức đúng về trách nhiệm của mình.

2.2. Thiếu thông tin và giáo dục về sức khỏe sinh sản

Nhiều nam giới H'Mông không được tiếp cận với thông tin về sức khỏe sinh sản. Điều này làm cho họ không hiểu rõ về các biện pháp chăm sóc sức khỏe cho vợ và con, dẫn đến những quyết định sai lầm trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản.

III. Phương pháp nâng cao vai trò của nam giới trong chăm sóc sức khỏe sinh sản

Để nâng cao vai trò của nam giới H'Mông trong chăm sóc sức khỏe sinh sản, cần có những phương pháp cụ thể. Việc giáo dục và truyền thông là rất quan trọng để thay đổi nhận thức và hành vi của họ.

3.1. Tăng cường giáo dục về sức khỏe sinh sản

Cần tổ chức các chương trình giáo dục về sức khỏe sinh sản cho nam giới H'Mông. Những chương trình này nên được thiết kế phù hợp với văn hóa và ngôn ngữ của họ để đảm bảo hiệu quả.

3.2. Khuyến khích sự tham gia của nam giới trong chăm sóc sức khỏe

Cần tạo ra các cơ hội để nam giới H'Mông tham gia vào các hoạt động chăm sóc sức khỏe sinh sản. Điều này có thể bao gồm việc tham gia vào các buổi khám sức khỏe, tiêm phòng cho bà mẹ mang thai và các hoạt động giáo dục cộng đồng.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc nâng cao vai trò của nam giới H'Mông trong chăm sóc sức khỏe sinh sản không chỉ giúp cải thiện sức khỏe của bà mẹ và trẻ em mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của cộng đồng. Các kết quả nghiên cứu sẽ được áp dụng vào thực tiễn để cải thiện tình hình chăm sóc sức khỏe sinh sản tại xã Huổi Một.

4.1. Kết quả từ các chương trình can thiệp

Các chương trình can thiệp đã cho thấy sự thay đổi tích cực trong nhận thức và hành vi của nam giới H'Mông. Họ đã bắt đầu tham gia nhiều hơn vào các hoạt động chăm sóc sức khỏe sinh sản.

4.2. Ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng

Việc nâng cao vai trò của nam giới trong chăm sóc sức khỏe sinh sản đã góp phần giảm tỷ lệ tử vong của bà mẹ và trẻ em, đồng thời cải thiện chất lượng dân số tại địa phương.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho chăm sóc sức khỏe sinh sản

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy vai trò của nam giới H'Mông trong chăm sóc sức khỏe sinh sản là rất quan trọng. Để đạt được sự bình đẳng giới và nâng cao chất lượng dân số, cần có những chính sách và chương trình hỗ trợ cụ thể cho nam giới trong lĩnh vực này.

5.1. Tầm quan trọng của chính sách hỗ trợ

Chính sách hỗ trợ cho nam giới trong chăm sóc sức khỏe sinh sản cần được xây dựng và thực hiện một cách đồng bộ. Điều này sẽ giúp nâng cao nhận thức và trách nhiệm của họ trong gia đình.

5.2. Hướng đi tương lai cho nghiên cứu và can thiệp

Cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các chương trình can thiệp nhằm nâng cao vai trò của nam giới trong chăm sóc sức khỏe sinh sản. Điều này không chỉ giúp cải thiện sức khỏe của bà mẹ và trẻ em mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của cộng đồng.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ vai trò nam giới dân tộc hmông vùng tây bắc trong chăm sóc sức khỏe sinh sản nghiên cứu trường hợp xã huổi một huyện sông mã tỉnh sơn la

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Chăm sóc sức khoẻ sinh sản (SKSS) là lĩnh vực sớm được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm nghiên cứu và hiện nay đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia, nhất là các nước đang phát triển. Khái niệm SKSS và chăm sóc SKSS lần đầu tiên được đưa ra trong Chương trình Hành động của Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển diễn ra tại Cai - ro, Ai - Cập năm 1994. Sau Hội nghị này, chương trình Dân số - KHHGĐ của Việt Nam cũng chuyển hướng với sự chú ý nhiều hơn dành cho chăm sóc SKSS. Chương này sẽ cho thấy những luận điểm chủ yếu trong các nghiên cứu về chăm sóc SKSS nói chung, hẹp hơn là những nghiên cứu trong nhóm các dân tộc thiểu số và đặc biệt là những nghiên cứu đề cập đến sự tham gia của nam giới trong chăm sóc SKSS.

Điểm luận một số nghiên cứu về chăm sóc sức khoẻ sinh sản nói chung Kể từ sau hội nghị Dân số và Phát triển Cairo 1994, vấn đề dân số trên thế giới không chỉ còn tập trung vào nội dung giảm sinh. Các chương trình dân số đã từng bước chuyển từ vấn đề quy mô dân số sang những thách thức lớn hơn, đó là chất lượng, dịch vụ và những vấn đề có liên quan như sức khoẻ sinh sản, bình đẳng giới,… Cùng với xu hướng đó, ở Việt Nam đã có rất nhiều dự án, nghiên cứu được thực hiện, tập trung vào những nội dung cơ bản liên quan đến chăm sóc sức khoẻ sinh sản như: kế hoạch hoá gia đình, làm mẹ an toàn, phá thai an toàn… Ở đây, chúng tôi điểm luận nhấn mạnh vào hai nội dung: kế hoạch hoá gia đình và làm mẹ an toàn. Thứ nhất, về nội dung kế hoạch hoá gia đình, có thể kể đến những tác giả như Nguyễn Thị Vân Anh bàn về sở thích sinh đẻ ở một số vùng nông thôn Việt Nam. Tác giả cho thấy, ở nhiều vùng nông thôn, phụ nữ vẫn mong muốn có nhiều hơn 2 người con, đặc biệt nhu cầu phải có con trai vẫn rất mạnh mẽ.

Sở thích sinh đẻ có quan hệ chặt chẽ với các yếu tố về nhân khẩu (như tuổi, độ dài kết hôn, quy mô gia đình hiện có, số con trai…) hơn là những yếu tố xã hội (như học vấn, nghề nghiệp…) [Nguyễn Thị Vân Anh, 1993, tr. Sở thích sinh đẻ là một trong 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những chỉ báo quan trọng để dự báo mức sinh trong tương lai. Cũng nhằm mục đích dự báo mức sinh, phản ánh nguyện vọng sinh con của các gia đình, tác giả Mai Quỳnh Nam đã nghiên cứu dư luận xã hội về số con. Về mặt nhận thức vẫn có một bộ phận không nhỏ người dân mong muốn có 3, 4 người con, mong muốn có con trai được thể hiện rất rõ, mong muốn có con trai là tác nhân mạnh mẽ phá vỡ mục tiêu mỗi gia đình chỉ nên có từ 1 đến 2 con, vì người dân sẽ không dừng lại cho đến khi nào sinh được con trai.

Tác giả còn cho thấy kiến thức người dân về các BPTT còn hạn chế, hầu như chỉ biết đến biện pháp đơn giản nhất là vòng tránh thai [Mai Quỳnh Nam, 1994, tr. Bàn về kiến thức, thái độ và việc thực hiện KHHGĐ ở Việt Nam, tác giả Phạm Bích San đã cho thấy sự hiểu biết và việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ phụ thuộc và những yếu tố như khu vực sinh sống, tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, số con. Sự hiểu biết của nhân dân mới chỉ xoay quanh vòng tránh thai và đây cũng là phương pháp chủ yếu được người dân sử dụng. Nghiên cứu này đã đánh giá mặt bằng kiến thức, thái độ và việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ trong nhân dân Việt Nam tại một số tỉnh trong chu kì tài trợ của quỹ Dân số Liên hợp quốc.

Nhìn chung, tâm thế người dân đã dần chấp nhận mô hình gia đình nhỏ, mỗi cặp vợ chồng chỉ nên có từ 1 đến 2 con, tuy nhiên vẫn tồn tại một bộ phận không nhỏ các cặp vợ chồng muốn có 3 con trở lên. Chuẩn mực đông con và có con trai trong gia đình vẫn còn khá dai dẳng. Tuy nhiên, nghiên cứu chưa quan tâm đến việc so sánh sự khác biệt về nhận thức, thái độ và việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ giữa phụ nữ và nam giới, nhóm nam giới chưa được quan tâm, chú ý đến trong nghiên cứu này [Phạm Bích San, 1994, tr. Tác giả Phạm Bá Nhất lại phân tích kiến thức, thái độ và việc thực hiện KHHGĐ trong phạm vi nhóm đối tượng ở đô thị.

Ở khu vực đô thị, ý tưởng về mô hình gia đình ít con, về kiến thức trong lĩnh vực dân số và KHHGĐ, về việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ đã có điều kiện du nhập vào trong thái độ của những dân thành phố. Trong đó phụ nữ là nhóm có mong muốn ít con hơn so với nam giới. Tuy nhiên, số liệu chưa cho phép kết luận rằng các kết quả đó là sản phẩm tự nó, chắc chắn của một trình độ phát triển cao hơn của các khu vực đô thị. Bài viết quan tâm làm rõ nhu cầu, mong muốn của người dân về số con 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong gia đình từ đó thấy được thái độ, ý tưởng của người dân đô thị về mô hình gia đình ít con.

Bài viết cũng đã có sự xem xét vấn đề từ góc độ giới, tuy nhiên mới dừng lại ở sự đề cập chung chung, chưa đi sâu phân tích kiến thức, thái độ về mô hình gia đình ít con và việc sử dụng biện pháp KHHGĐ của nam giới [Phạm Bá Nhất, 1994, tr. Cũng nhằm bàn về kiến thức, tâm thế đối với việc thực hiện KHHGĐ, nhưng tác giả Vũ Tuấn Huy chỉ tập trung vào nhóm đối tượng là cán bộ hoạt động trong hệ thống truyền thông đại chúng. Đây là nhóm đối tượng có trình độ học vấn khá cao. Kết quả cho thấy nhận thức của nhóm đối tượng này về các biện pháp tránh thai cao hơn mặt bằng chung trong nhân dân, tâm thế hướng đến gia đình ít con cũng phổ biến và mạnh hơn.

Trong bài viết, tác giả cũng có điểm nhanh về sự khác biệt tâm thế giữa phụ nữ và nam giới, phụ nữ có xu hướng chấp nhận gia đình ít con mạnh hơn nam giới [Vũ Tuấn Huy, 1994, tr. Tác giả Phạm Bích San cũng đã khẳng định ý tưởng về một gia đình ít con đã xâm nhập được vào trong xã hội Việt Nam. Sự hiện diện của ý tưởng này là phổ quát tại các khu vực đô thị, nông thôn đồng bằng sông Hồng cũng như một số các khu vực khác trong cả nước. Nguyện vọng về con trai tuy đã có những chuyển đổi đáng kể nhưng hãy còn rất lớn.

Nhu cầu về con trai tồn tại như một sự cần thiết rất thân thiết của các gia đình Việt Nam, đặc biệt là nông dân. Tác giả cũng đã dự báo ý tưởng về mô hình gia đình ít con sẽ nhanh chóng lan truyền rộng khắp trong xã hội Việt Nam, còn nhu cầu phải có con trai thì sẽ thay đổi chậm chạp trong những năm sắp tới [Phạm Bích San, 1995, tr. Tác giả Trương Xuân Trường thì xem xét nhận thức, thái độ và việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ trong nhóm công nhân ở vùng mỏ Quảng Ninh. Nhìn chung, vấn đề nhận thức và việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ tại vùng mỏ còn tồn tại nhiều mâu thuẫn và các khoảng trống.

Kết quả khảo sát về tất cả các vấn đề cũng cho phép kết luận rằng chưa phải cứ có một đời sống kinh tế khá ổn định, một mặt bằng trình độ học vấn và tiêu dùng văn hoá tương đối khá là có thể có ngay sự thay đổi toàn diện về các hành vi dân số theo chiều hướng mong muốn [Trương Xuân Trường, 1996, tr. Một nghiên cứu tìm hiểu nhận thức về số con của phụ nữ nông thôn cũng cho thấy phụ nữ nông thôn có nhận thức khá tốt về số con theo quy định của Nhà nước, cũng như mong muốn 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com về số con được thể hiện khá tích cực. Tác giả cũng khẳng định vai trò quyết định của yếu tố thiên vị giới tính nam đối với nguyện vọng về số con, như đã được xác nhận đối với một số nước có truyền thống Khổng giáo. Mong muốn có ít nhất một con trai trong số phụ nữ nông thôn chắc chắn là một lực ép nặng nề đối với mọi mục tiêu của chương trình dân số và KHHGĐ trong tương lai [Nguyễn Minh Thắng, Charles Hirschman, Nguyễn Hữu Minh, 1996, tr.

Nhu cầu sinh nhiều con, và nhất thiết phải có con trai còn thấy rõ ở vùng biển, đảo và ven biển Việt Nam. Vấn đề chăm sóc SKSS ở Việt Nam trong hơn một thập kỉ qua đã được quan tâm và có sự chuyển biến đáng kể. Tuy nhiên, việc thực hiện chiến lược dân số trong những năm gần đây ở nhiều vùng miền trên đất nước, như là ở vùng biển, đảo và ven biển còn chưa đạt yêu cầu mà chiến lược đã đề ra như: người dân vẫn sinh nhiều con, tỷ lệ hộ sinh con thứ 3 chưa giảm, việc chăm sóc sức khoẻ sinh sản cho bà mẹ và trẻ sơ sinh chưa đảm bảo [Nguyễn Đình Tấn và các cộng sự, 2010, tr. Ở những vùng biển, đảo và ven biển nước ta các cặp vợ chồng vẫn có nhu cầu phải sinh được con trai, càng nhiều càng tốt, chất lượng dân số thấp, số trẻ em sinh ra bị khuyết tật và thiểu năng trí tuệ có tỷ lệ cao [Nguyễn Đình Tấn và các cộng sự, 2010, tr.

Thái độ và hành vi sinh sản cũng như chăm sóc SKSS của người dân ở vùng biển, đảo và ven biển chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau: kinh tế, xã hội, môi trường sống, trình độ học vấn… Tuy nhiên, trong những yếu tố tác động nói trên thì yếu tố phong tục, tập quán và nghề nghiệp có sự tác động mạnh mẽ hơn hẳn các yếu tố khác. Chính yếu tố này đã có những tác động thiếu tích cực đến thái độ và hành vi sinh sản cũng như chăm sóc SKSS của người dân, làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc đảm bảo chất lượng dân số, quy mô dân số. Bản thân nhóm dân cư trong độ tuổi sinh đẻ ở vùng biển, đảo và ven biển có nhận thức tương đối tốt về nội dung “Làm mẹ an toàn, chăm sóc thai nhi và trẻ em”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ