PHẦN MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài Ngày nay, hoạt động kiểm soát nội bộ (KSNB) và sự hữu hiệu của KSNB tại các doanh nghiệp đang nhận được sự quan tâm khá lớn của các nhà quản trị cũng như các bên có liên quan (Agbejule và Jokipii, 2009; Chalmers và cộng sự, 2019). Điều này là vì sự hữu hiệu của KSNB có thể giúp doanh nghiệp giảm chi phí sử dụng vốn (Khlif và cộng sự, 2019), phát huy lợi thế cạnh tranh (Cheng và cộng sự, 2018), gia tăng kết quả hoạt động kinh doanh (KQHĐKD) (Lopez và cộng sự, 2009; Tetteh và cộng sự, 2020) và nâng cao giá trị (Gao và Jia, 2016). Một số nghiên cứu cho thấy KSNB là cơ chế cần thiết để giám sát các hoạt động của doanh nghiệp (Goh và Li, 2011), thúc đẩy sự hợp tác giữa các bộ phận chức năng (Hunziker, 2017), tăng cường hiệu quả của công tác quản trị rủi ro và quản trị công ty (Aziz, 2013).
Bên cạnh đó, sự hữu hiệu của KSNB đã được thể hiện khá rõ ràng trong các hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp (Le và cộng sự, 2020). Minh chứng điển hình là những lợi ích thiết thực mà sự hữu hiệu của KSNB đã đem lại cho công tác quản lý (Zhang và cộng sự, 2022) cũng như sự gia tăng không ngừng về số lượng của các nghiên cứu về KSNB1 trong thời gian qua. Vì thế, việc tăng cường sự hữu hiệu của KSNB là thực sự quan trọng (Sarens và Christopher, 2010) – đặc biệt ở các quốc gia mới nổi. Điều này cũng áp dụng cho Việt Nam, bởi vì KSNB hữu hiệu sẽ giúp các doanh nghiệp tại Việt Nam nâng cao hiệu quả hoạt động và tạo lập lợi thế cạnh tranh bền vững (Hoài và Nguyên, 2019).
KSNB ở mỗi doanh nghiệp có phát huy được trọn vẹn chức năng và giá trị hay không thì còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Một trong những yếu tố mang tính chi phối đến KSNB và có ý nghĩa to lớn đối với sự sống còn của doanh nghiệp chính là lãnh đạo. Lãnh đạo có thể hoàn thành tốt vai trò quản lý một phần là nhờ vào những yếu tố bẩm sinh (Bernard, 1926) hoặc những yếu tố được hình thành trong quá trình 1 Kết quả tìm kiếm trên Google Scholar với từ khoá hệ thống KSNB “internal control systems” vào tháng 10 năm 2022 cho thấy số lượng công bố tăng nhanh trong giai đoạn 2001 – 2020. Cụ thể: giai đoạn 2001 – 2005 có 2.880 bài, giai đoạn 2006 – 2010 có 5.620 bài, giai đoạn 2011 – 2015 có 10.100 bài, giai đoạn 2016 – 2020 có 13.500 bài, giai đoạn 2021 đến tháng 10/2022 là 5.
2 quản lý, ví dụ như sự nhất quán, phẩm cách, tinh thần trách nhiệm,… (DuBrin, 2015; Saal và Knight, 1995). Trong những yếu tố ấy, sự nhất quán của lãnh đạo được xem là nổi bật và nhận được khá nhiều sự chú ý từ các nghiên cứu trước (ví dụ: De Cremer, 2003; Rosenberg và cộng sự, 1955; Sorek và cộng sự, 2018). Sự nhất quán của lãnh đạo được khái quát là xu hướng duy trì tính thống nhất về lời nói và hành động của lãnh đạo trong nhiều bối cảnh khác nhau (Leventhal, 1980). Sự nhất quán trong lời nói và hành động sẽ giúp lãnh đạo gia tăng niềm tin nơi nhân viên (Wang và Hsieh, 2013) và tạo lập tính công bằng trong các quy trình hoạt động của doanh nghiệp (De Cremer, 2003).
Bên cạnh đó, sự nhất quán của lãnh đạo được xem là một nghệ thuật quản trị khiến khách hàng hài lòng (Pulido và cộng sự, 2014), giúp lãnh đạo nâng cao hiệu quả quản lý cũng như thực hiện tốt các mục tiêu chiến lược và cải thiện hiệu suất doanh nghiệp (Lakshman, 2008). Ngược lại, lãnh đạo thiếu nhất quán sẽ ít thành công trong công việc, thậm chí trở thành nguyên nhân của những thất bại trong doanh nghiệp (Aboyassin và Abood, 2013; Bodolica và Spraggon, 2020). Ví dụ, lãnh đạo thiếu nhất quán là cội nguồn của việc nhân viên dễ rơi vào trạng thái căng thẳng và thay đổi theo hướng tiêu cực để giải toả áp lực tâm lý dẫn đến thuyên giảm năng suất làm việc (Gawronski và Strack, 2012). Những hậu quả này làm cho nhân viên phải tiêu tốn nhiều nguồn lực để giải quyết và hiệu suất của các hoạt động KSNB mà họ đang tham gia cũng bị giảm sút.
Do đó, sự nhất quán của lãnh đạo trong KSNB là rất quan trọng bởi vì sự nhất quán của lãnh đạo sẽ giúp doanh nghiệp đạt được hiệu suất tích cực thông qua sự hài lòng của nhân viên (Hoài và Nguyên, 2020). Trên thực tế, lãnh đạo thường được nhận diện và đánh giá thông qua nhiều đặc điểm, hành vi và chất lượng (Horner, 1997). Các khía cạnh thuộc về chất lượng lãnh đạo như phẩm chất, khả năng truyền động lực, khả năng truyền cảm hứng, sức ảnh hưởng,…(Zhou và cộng sự, 2008) sẽ giúp doanh nghiệp hình thành môi trường làm việc lành mạnh, đưa đến sự hài lòng và cam kết cao của nhân viên trong công việc (Zhou và cộng sự, 2020). Nếu lãnh đạo thiếu năng lực, hạn chế về tầm nhìn và tư duy quản lý thì doanh nghiệp sẽ gặp không ít khó khăn trong việc thực hiện các mục tiêu chiến lược cũng như xây dựng và phát triển uy tín trên thị trường cạnh tranh ngày 3 càng khốc liệt (Love và cộng sự, 2017).
Do vậy, trong hoạt động KSNB, bên cạnh sự nhất quán của lãnh đạo, chất lượng lãnh đạo cũng là một trong những yếu tố then chốt cần được doanh nghiệp cẩn trọng xem xét. Chất lượng lãnh đạo được thể hiện thông qua những thuộc tính vượt trội về tính cách, động cơ, giá trị và kỹ năng của lãnh đạo (Stogdill, 1948, 1974). Theo góc nhìn của KSNB, chất lượng lãnh đạo tốt sẽ giúp doanh nghiệp chinh phục mục tiêu về KSNB một cách dễ dàng hơn. Đặc biệt, những chính sách KSNB đã đề ra đều nhằm đảm bảo doanh nghiệp có thể đạt được kết quả tốt nhất trong việc bảo vệ tài sản và nâng cao hiệu quả hoạt động (COSO, 2013).
Do đó, lãnh đạo có chất lượng sẽ có khuynh hướng quyết đoán và nhất quán trong các hoạt động KSNB nhằm tối đa hóa lợi ích cho doanh nghiệp trên nhiều phương diện khác nhau (tài chính, hoạt động, khách hàng, cạnh tranh, giá trị,…). Tác giả cho rằng, đối với hoạt động KSNB nói riêng và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp nói chung, chất lượng lãnh đạo là một yếu tố mang tính quyết định. Các nghiên cứu trước về thực trạng KSNB tại Việt Nam đã chỉ ra rằng, phần lớn các doanh nghiệp đều còn non trẻ và việc khai thác những lợi ích của KSNB chỉ mới được quan tâm trong thời gian gần đây (Le và cộng sự, 2020). Đại đa số các doanh nghiệp Việt Nam chưa tổ chức tốt KSNB trên cả năm phương diện: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát (Nguyen và Bui, 2018).
Hai trong năm thành phần cơ bản của KSNB bao gồm hoạt động kiểm soát và giám sát là vẫn còn lỏng lẻo (Xuan-Quang và Zhong-Xin, 2013). Qua đó có thể thấy, các doanh nghiệp tại Việt Nam cần vận hành KSNB một cách hữu hiệu hơn (Hoài và Nguyên, 2019). Thực trạng và tầm quan trọng của KSNB tại các doanh nghiệp ở Việt Nam như vừa nêu đã chỉ ra sự cần thiết của những nghiên cứu khám phá và kiểm định các nhân tố đóng vai trò thúc đẩy sự hữu hiệu của KSNB trong bối cảnh Việt Nam hiện nay. Tổng quan nghiên cứu cho thấy, các nghiên cứu về KSNB ở Việt Nam – một thị trường mới nổi thuộc Châu Á là vẫn còn khan hiếm (Le và cộng sự, 2020; Puni và Anlesinya, 2020).
Tuy nhiên, những nghiên cứu về các nhân tố tác động đến sự hữu hiệu của KSNB ở các quốc gia Châu Á có thị trường mới nổi như Việt Nam khá là 4 phong phú. Cụ thể, Goh (2009) đã khẳng định ủy ban kiểm toán và hội đồng quản trị là ảnh hưởng không nhỏ đến sự hữu hiệu của KSNB của các doanh nghiệp niêm yết ở Singapore bởi vì họ đảm nhận vai trò giám sát việc khắc phục các hạn chế của KSNB. Tại Malaysia, các thông lệ của kiểm toán nội bộ và đặc điểm của hội đồng quản trị có tác động đáng kể đến sự hữu hiệu của KSNB của các doanh nghiệp niêm yết tại đất nước này (Fadzil và cộng sự, 2005). Nhiều nghiên cứu ở Trung Quốc cũng đã chỉ ra sự đa dạng của các nhân tố tác động đến sự hữu hiệu của KSNB, bao gồm: cơ cấu sở hữu vốn và thành phần hội đồng quản trị (Zhang và cộng sự, 2022), sự chính trực của tổ chức (Shu và cộng sự, 2018), năng lực công nghệ thông tin của doanh nghiệp (Chen và cộng sự, 2014), năng lực nhân sự đảm nhiệm KSNB (Liu và cộng sự, 2017).
Theo Liu và cộng sự (2012), môi trường pháp lý và thể chế có ảnh hưởng khá lớn đến sự hữu hiệu của KSNB của các doanh nghiệp niêm yết tại Trung Quốc. KSNB sẽ có điều kiện để phát huy vai trò và trở nên hữu hiệu khi được thực hiện dưới một môi trường pháp lý và thể chế rõ ràng (Liu và cộng sự, 2012). Theo sự tìm hiểu của tác giả, các nghiên cứu về vai trò trung gian của sự hữu hiệu của KSNB đối với tác động của cấu trúc KSNB đến KQHĐKD và các nghiên cứu về các biến điều tiết đối với tác động của cấu trúc KSNB đến sự hữu hiệu của KSNB vẫn còn khan hiếm ở cả trên thế giới và Việt Nam. Ngoại trừ nghiên cứu của Hoài và Nguyên (2019) đã chứng minh vai trò điều tiết của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (TNXHDN) đối với mối quan hệ giữa cấu trúc KSNB và sự hữu hiệu của KSNB trong việc gia tăng KQHĐKD cho các doanh nghiệp tại Việt Nam.
Những nghiên cứu xem xét tác động điều tiết của chất lượng lãnh đạo đối với vai trò điều tiết của sự nhất quán của lãnh đạo trong mối quan hệ giữa cấu trúc KSNB và sự hữu hiệu của KSNB nhằm nâng cao KQHĐKD vẫn còn thiếu vắng. Cụ thể, cấu trúc KSNB sẽ tác động đến KQHĐKD thông qua sự hữu hiệu của KSNB, sự nhất quán của lãnh đạo có thể đóng vai trò điều tiết tác động của cấu trúc KSNB đến sự hữu hiệu của KSNB và chất lượng lãnh đạo có thể điều tiết vai trò điều tiết này. Tuy nhiên, trong hệ thống cơ sở lý luận về lãnh đạo và KSNB thì những mối quan hệ trên vẫn chưa được tìm hiểu. Đây cũng chính là khe hổng nghiên cứu cần được lấp.
Việc lấp khe hổng nghiên 5 cứu này sẽ giúp luận án góp phần bổ sung vào cơ sở lý luận về lãnh đạo và KSNB.