MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài Ngành nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đặc biệt với các nước đang phát triển. Đối với Việt Nam, ngành sản xuất nông nghiệp đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Nó đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm cho khoảng 88,7 triệu người, là một ngành sản xuất có thặng dư xuất khẩu. Sản lượng lương thực qua các năm tăng lên, năm 1980 là 10 triệu tấn, đến năm 2011 là 47,12 triệu tấn, đóng góp 22% giá trị GDP.
Bên cạnh đó, ngành nông nghiệp còn cung cấp lao động cho các ngành khác. Năm 2012, cơ cấu dân cư sống ở nông thôn là 68,06%, cơ cấu lao động trong nông nghiệp chiếm 47,4%, hàng năm chuyển sang các ngành khác từ 2,4 - 2,5 triệu lao động. Trong ngành sản xuất nông nghiệp có hai ngành sản xuất chính đó là ngành trồng trọt và ngành chăn nuôi. Mỗi ngành có một vị trí và tầm quan trọng riêng.
Trong ngành trồng trọt, cây khoai tây có một vị trí, vai trò quan trọng, góp phần không nhỏ trong tổng giá trị của ngành trồng trọt. Sản phẩm của ngành trồng trọt ngoài cung cấp cho thị trường trong nước mà còn để xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới. Vì thế yêu cầu chất lượng và hiệu quả sử dụng của sản phẩm phải rất cao, vừa phải đủ chất dinh dưỡng vừa phải đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm và phải mang lại hiệu quả thu kinh tế cho người dân. Để đạt được mục tiêu này đòi hỏi người trồng cây phải thay đổi kỹ thuật trồng trọt sao cho phù hợp.
Muốn làm được điều đó cần chú ý đến các yếu tố về cây giống, phân bón, chăn sóc quản lý, điều kiện tự nhiên. Quế Võ là một huyện đồng bằng, người dân sống chủ yếu dựa vào nghành sản xuất nông nghiệp, và là vùng có điều kiện tự nhiên phù hợp với một số loại cây trồng như lúa, khoai tây… So với các loại cây trồng khác thì 2 khoai tây là loại cây trồng đang dần phát triển mạnh, sở dĩ cây khoai tây có được vị trí đó nhờ các ưu điểm sau: Trước hết cây khoai tây rất phù hợp với điều kiện đất đai, thời tiết, khí hậu, nhiệt độ… của huyện; cây khoai tây là loại cây rau ngắn ngày nhanh cho thu hoạch; ngoài những ưu điểm trên cây khoai tây còn có một số ưu điểm khác như dễ trồng, dễ chăm sóc, ít sâu bệnh. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn ở xã Mộ Đạo, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, để có những cơ sở khoa học hiểu biết phát triển cây khoai tây có hiệu quả đem lại giá trị kinh tế và phương hướng phát triển cây khoai tây trong những năm tới. Chính vì vậy tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Vai trò của khoai tây trong sinh kế và kinh tế hộ xã Mộ Đạo, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh” 1.2 Mục tiêu nghiên cứu + Tìm hiểu được Tổng quan điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Quế Võ.
+ Đánh giá được vai trò của khoai tây trong sinh kế và linh tế hộ tại xã Mộ Đạo, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. + Đề xuất một số giải pháp phát triển sản xuất khoai tây trong sinh kế và kinh tế hộ của xã Mộ Đạo, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.3 Ý nghĩa của đề tài 1.1 Ý nghĩa trong học tập - Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: Quá trình thực tập tốt nghiệp giúp cho sinh viên có điều kiện tiếp cận với thực tế, giúp sinh viên củng cố thêm những kiến thức, kỹ năng đã học. Đồng thời có cơ hội vận dụng chúng vào sản xuất thực tế. Góp phần thu thập dữ liệu về thực tiễn sản xuất, là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu có liên quan.
Biết cách thực hiện một đề tài khoa học và hoàn thành một khóa luận. 3 Rút ra được nhưng thông tin để thực hiện kế hoạch phát triển những năm tiếp theo đối với cây khoai tây. Là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu khoa học có liên quan. Đây là tài liệu tham khảo tốt cho các nhà quản lý trong lĩnh vực khuyến nông tại địa phương.2 Ý nghĩa của thực tiễn của đề tài - Nhận thấy những gì đã làm được và chưa làm được khi đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, góp phần tăng thu nhập, nâng cao hiệu quả kinh tế nông hộ.
- Kết quả của đề tài sẽ là cơ sở cho các cấp chính quyền địa phương, các nhà đầu tư đưa ra những quyết định mới, hướng đi mới để xây dựng kế hoạch phát triển quy mô trồng cây khoai tây rộng hơn. 4 PHẦN II TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Một số lý luận về vấn đề về sinh kế, sinh kế bền vững và phương pháp tiếp cận sinh kế trong nghiên cứu nông thôn. Hiện nay, khái niệm sinh kế đã được các tổ chức phi chính phủ, thậm chí cả chính quyền của hầu hết các quốc gia quan tâm, mở ra một lĩnh vực mới sâu sắc hơn trong các phương pháp tiếp cận nông thôn. Từ năm 1997, trong sách Trắng, Bộ phát triển quốc tế Anh (DFID) đã đưa ra các quan điểm có liên quan đến sinh kế.
Với cam kết “Hỗ trợ những chính sách và hành động cho việc xúc tiến các loại hình sinh kế bền vững”. Đến 1999, khái niệm Sinh kế và Sinh kế bền vững đã được nhiều tổ chức phát triển đưa ra và có nhiều cách lý giải khác nhau về sinh kế. Trong đó, những quan điểm của DFID đưa ra đã được đa số các chuyên gia và các tổ chức phát triển chấp nhận và xem đây như là cơ sở để xây dựng khung phân tích trong các hoạt động tiếp cận và tổ chức các trương trình dự án trong lĩnh vực phát triển nông thôn [9]. Theo DFID, một sinh kế bao gồm có 3 phần chính như sau: Nguồn lực và khả năng mà con người có được, chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế.
Theo đó một sinh kế là bền vững khi con người có thể đối phó và phục hồi những áp lực và các cú sốc, đồng thời có thể duy trì và nâng cao khả năng và tài sản ở cả hiện tại lẫn tương lai mà không gây tổn hại đến cơ sở các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Định nghĩa này không chỉ quan tâm đến hiện tại mà còn đề cập đến khả năng phát triển của hộ nói chung và của con người nói riêng ở tương lai. 5 Theo đó, các nguồn lực mà con người có, được xem là các vốn hay tài sản sinh kế bao gồm 5 loại cơ bản sau: Vốn con người: Bao gồm kỹ năng, kiến thức và sự giáo dục của từng các nhân và các thành viên trong gia đình, sức khỏe, thời gian và khả năng làm việc để họ đạt được những kết quả sinh kế. Vốn xã hội: Đề cập đến mạng lưới và mối quan hệ, các tổ chức xã hội và các nhóm chính thức cũng như phi chính thức mà con người tham gia để từ đó được những kết quả sinh kế.
Vốn tự nhiên: Là các nguồn lực tự nhiên(của một hộ hoặc của cộng đồng) mà con người trông cậy vào nó. Ví dụ: Đất đai, rừng cây, khoáng sản, nguồn nước, các nguồn tài nguyên ven biển, nguồn tài nguyên phi vật thể như sinh thái môi trường có tiềm năng cho kinh doanh du lịch và nghỉ dưỡng. Vốn tài chính: Là các nguồn lực tài chính mà con người có được, như các nguồn thu nhập bằng tiền mặt (kể cả bằng hiện vật tính quy đổi ra tiền mặt), các loại hình tiết kiệm khác nhau, nguồn vốn vay tín dụng và các luồng thu nhập tiền mặt như lương hưu, tiền do người thân gửi về, hoặc là những trợ cấp về vốn hay vật chất quy đổi ra tiền của các cơ quan nhà nước hoặc các tổ chức phi chính phủ. Vốn vật chất: Bao gồm các công trình hạ tầng cơ sở và xã hội cơ bản và các tài sản của hộ gia đình hỗ trợ cho đời sống sản xuất của họ, như đường giao thông, hệ thống điện, trạm xá và hệ thống cấp nước, nhà ở và các đồ dùng, dụng cụ trong gia đình như tivi, máy radio, các công cụ máy móc phụ vụ sản xuất như máy cấy, máy cày, trâu bò, cuốc xẻng, máy gặt, máy tuốt.
Các nguồn vốn này không chỉ nằm độc lập mà chúng có mối liên hệ biện chứng với nhau, như hình vẽ minh họa dưới đây. 6 Vốn tự nhiên Vốn con người Vốn vật chất Vốn tài chính Vốn xã hội Khung sinh kế bền vững của DIFID.[9] Tất cả các nguồn vốn này thể hiện một cách khái quát tình trạng của nông hộ. Thông qua đó, ta có thể tìm được các giải pháp tối ưu nhất cho sự phát triển về mọi mặt cho nông hộ nói chung và cho con người nói riêng. Thuật ngữ “Chiến lược sinh kế ” được dùng để chỉ phạm vi và sự kết hợp những lựa chọn và quyết định mà người dân đưa ra trong trong việc sử dụng và quản lý các nguồn vốn và tài sản sinh kế nhằm tăng thu nhập và nâng cao đời sống, đó chính là kết quả sinh kế mà cả người dân lẫn các nhà hoạt động trong lĩnh vực sinh kế đều muốn hướng tới.
Chiến lược sinh kế của nông hộ là những quyết định trong việc lựa chọn, kết hợp, sử dụng và quản lý các nguồn vốn sinh kế của người dân nhằm để kiếm sống cũng như đạt được mục tiêu và ước vọng của họ. Những lựa chọn và quyết định của người dân cụ thể là: + Quyết định đầu tư vào loại nguồn lực vốn hay tài sản sinh kế. + Qui mô của các hoạt động để tạo thu nhập mà họ theo đuổi. + Cách thức họ quản lý và bảo tồn các tài sản sinh kế.
+ Các thức họ thu nhận và phát triển những kiến thức, kỹ năng cần thiết để kiếm sống. + Họ sẽ đối phó như thế nào với những rủi ro mà họ gặp phải, những cú sốc và những cuộc khủng hoảng ở nhiều dạng khác nhau và họ sử dụng thời gian và công sức lao động mà họ có như thế nào để có được những kết quả như trên. 7 Những mục tiêu và ước nguyện đạt được là những kết quả sinh kế, đó là những điều mà con người muốn đạt được trong cưộc sống cả trong hiện tại và cả tương lai, bao gồm: Sự hưng thịnh hơn: Thu nhập cao hơn và ổn định hơn, cơ hội việc làm tốt hơn; kết quả của những công việc mà người dân đang thực hiện tăng lên và nhìn chung lượng tiền của hộ gia đình thu được tăng lên.