Chương I, Luật Giáo dục (2005), hệ thống giáo dục LUAN VAN CHAT LUONG download :10add luanvanchat@agmail.com quốc dân có giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên. Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân: - Giáo dục mầm non thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi, gồm có: + Nhà trẻ, nhóm trẻ nhận trẻ em từ ba tháng tuổi đến ba tuổi. + Trường, lớp mẫu giáo nhận trẻ em từ ba tuổi đến sáu tuổi. + Trường mầm non là cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi.
- Giáo dục phổ thông gồm có: + Giáo dục tiểu học được thực hiện trong năm năm học, từ lớp một đến lớp năm, tuổi của học sinh vào lớp một là sáu tuổi. + Giáo dục trung học cơ sở được thực hiện trong bốn năm, từ lớp sáu đến lớp chín. Học sinh vào lớp sáu phải hoàn thành chương trình tiểu học, có tuổi là mười một. + Giáo dục trung học phổ thông được thực hiện trong ba năm học, từ lớp mười đến lớp mười hai.
Học sinh vào lớp mười phải có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, có tuổi là mười lăm. - Giáo dục nghề nghiệp gồm có: + Trung cấp chuyên nghiệp được thực hiện từ ba đến bốn năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, từ một đến hai năm đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông. + Dạy nghề được thực hiện dưới một năm đối với đào tạo nghề trình độ sơ cấp, từ một đến ba năm đối với đào tạo nghề trình độ trung cấp, cao đẳng. - Giáo dục đại học gồm có: + Đào tạo trình độ cao đẳng được thực hiện từ hai đến ba năm học tuỳ theo ngành nghề đào tạo đối với người có bằng trung học phổ thông hoặc có bằng tốt nghiệp trung cấp; từ một năm ruỡi đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành.
+ Đào tạo trình độ đại học được thực hiện từ bốn đến sáu năm học tuỳ theo ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; từ hai năm rưỡi đến bốn năm học đối với người có bằng tốt LUAN VAN CHAT LUONG download :11add luanvanchat@agmail.com nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp cao đẳng cùng chuyên ngành. + Đào tạo trình độ thạc sĩ được thực hiện từ một đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp đại học. + Đào tạo trình độ tiến sĩ được thực hiện trong bốn năm học đối với người có bằng tốt nghiệp đại học, từ hai đến ba năm đối với người có bằng thạc sĩ. Giáo dục thường xuyên có vai trò rất quan trọng trong việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu thay đổi công nghệ trong sản xuất và đời sống, xây dựng xã hội học tập.
Giáo dục thường xuyên vừa là phương thức học tập, mặt khác do nhu cầu phát triển đã trở thành một bộ phận quan trọng bên cạnh giáo dục chính quy trong hệ thống giáo dục quốc dân. Tại Mục 5, Chương 2, Luật Giáo dục (2005) nêu rõ: giáo dục thường xuyên giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm viêc làm, tự tạo lập việc làm và thích nghi với đời sống xã hội. Giáo dục thường xuyên bao gồm nhiều chương trình đào tạo: chương tình xoá mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ; chương tình giáo dục đáp ứng yêu cầu của người học, cập nhật kiến thức, kỹ năng, chuyển giao công nghệ; chương trình đào tạo. bồi bưỡng nâng cao trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ; chương trình giáo dục để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân theo hình thức vừa học vừa làm, học từ xa, tự học có hướng dẫn.
Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân được tổ chức theo các loại hình sau: - Trường công lập do Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, đảm bảo kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên. - Trường dân lập do cộng đồng dân cư ở cấp cơ sở thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất và đảm bảo kinh phí hoạt động. - Trường tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp. Tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và đảm bảo kinh phí hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước.
Nhà nước tạo điều kiện để các trường công lập giữ vai trò nòng cốt. Trong hệ thống giáo dục Việt Nam có trường của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, chính trị – xã hội có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. Trường LUAN VAN CHAT LUONG download :12add luanvanchat@agmail.com của lực lượng vũ trang nhân dân có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và công nhân viên quốc phòng; bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý nhà nước về nhiệm vụ và kiến thức quốc phòng, an ninh. Bên cạnh đó, trong hệ thống giáo dục Việt Nam còn có các loại trường chuyên biệt, bao gồm trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường dự bị đại học; trường, lớp dành cho người tàn tật, khuyết tật; trường giáo dưỡng.
Mạng lưới trường lớp được phát triển rộng khắp với các loại hình đào tạo. Về cơ bản đã xoá được “xã trắng” về giáo dục mầm non; trường tiểu học và trung học cơ sở đã có tới xã; trường trung học phổ trung có tới huyện, phần lớn các huyện đều có nhiều trường trung học phổ thông. Hệ thống các trường dạy nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học tuy được phân bố chưa đều, nhưng ở hầu hết các địa phương trong cả nước cũng có ít nhất một trong các loại trường nói trên. Về qui mô học sinh, sinh viên đều tăng qua các năm học.
Đội ngũ nhà giáo ở các cấp bậc học tiếp tục được phát triển. Do số lượng giáo viên ở các cấp, bậc học đều tăng lên, dẫn đến tỷ lệ giáo viên trên lớp cũng có những chuyển biến đáng kể trong cả nước. Đại bộ phận nhà giáo tận tuỵ với nghề, có phẩm chất đạo đức tốt, có tinh thần trách nhiệm cao, tích cực học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Phần lớn đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục có trình độ đào tạo từ cao đẳng trở lên, có trình độ lý luận chính trị, tin học và ngoại ngữ.
Trong những năm qua, giáo dục nhận được sự quan tâm và ưu tiên từ Trung ương đến địa phương. Ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục đã tăng đáng kể ngay từ khi có Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII). Cùng với việc kiện toàn trong hệ thống giáo dục quốc dân, mạng lưới trường lớp, các cấp bậc học, đội ngũ nhà giáo…, thì những vấn đề quan trọng khác của nền giáo dục và đào tạo nước ta hiện nay như: ưu tiên phát triển giáo dục và đào tạo đối với vùng dân tộc thiểu số, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, chủ trương xã hội hoá giáo dục… cũng đã có những bước chuyển biến đáng kể, đáp ứng phần lớn nhu cầu học tập ngày càng cao của nhân dân, góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Mặc dù vậy, so với đòi hỏi của đất nước trong thời kỳ mới, nhất là từ khi chúng ta bước vào quá trình hội nhập quốc tế, nền giáo dục Việt Nam vẫn còn bộc lộ nhiều LUAN VAN CHAT LUONG download :13add luanvanchat@agmail.com hạn chế, bất cập.
Giáo dục và đào tạo phải đáp ứng tốt hơn nữa nhu cầu học tập của nhân dân, tạo cơ hội cho mọi tầng lớp nhân dân có thể tham gia học tập ở các trình độ. Giáo dục Việt Nam là một nền giáo dục cho mọi người và là một nền giáo dục thực sự có chất lượng. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách phát triển giáo dục và đào tạo. Đại hội VII đã khẳng định phát triển giáo dục (cùng khoa học, công nghệ) là quốc sách hàng đầu.
Đến Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII) về định hướng chiến lược phát triển giáo dục- đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000, thì vai trò quan trọng của giáo dục và đào tạo đối với sự phát triển của đất nước ngày càng được khẳng định và giáo dục đã thật sự được coi là quốc sách hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của nước ta. Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010 đã xác định rõ những quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục nước ta, đó là: Thứ nhất, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu. Thứ hai, xây dựng nền giáo dục có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Thứ ba, phát triển giáo dục và đào tạo phải đảm bảo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ khoa học – công nghệ, củng cố quốc phòng.
Thứ tư, giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Tư tưởng chỉ đạo của chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam trong giai đoạn 2001 – 2010 là khắc phục tình trạng bất cập trên nhiều lĩnh vực; tiếp tục đổi mới một cách có hệ thống và đồng bộ; tạo cơ sở để nâng cao rõ rệt chất lượng và hiệu quả giáo dục; phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chấn hưng đất nước, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững, chóng sánh vai cùng các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới. Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang tiếp tục đưa ra và dần đi đến hoàn thiện Dự thảo Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 (dự thảo lần thứ 23), lấy ý kiến của các cơ quan, ban ngành, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.