Chương 1 GIA ĐÌNH VÀ VAI TRÕ CỦA GIA ĐÌNH TRONG VIỆC BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 1. Gia đình và chức năng giáo dục của gia đình 1. Gia đình và những đặc điểm cơ bản của gia đình Gia đình có vị trí đặc biệt quan trọng và là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học. Những chủ đề nghiên cứu về gia đình luôn thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học không chỉ ở Việt Nam mà trên cả thế giới.
Đến nay khái niệm về gia đình vẫn chưa được xác định một cách thống nhất và rõ ràng nhưng nhiều quốc gia đồng thuận một cách hiểu chung nhất: “Gia đình là đơn vị cơ bản của tổ chức xã hội và là môi trường tự nhiên cho sự phát triển và hạnh phúc của mỗi thành viên, nhất là trẻ em” (Tuyên bố của Liên hiệp quốc về tiến bộ xã hội trong phát triển).Mác “…hàng ngày tái tạo ra đời sóng của bản thân mình, con người bắt đầu tạo ra những người khác, sinh sôi, nẩy nở - đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia đình [19, tr. Với quan điểm này khái niệm về gia đình được nhìn nhận với ba nội dung: Một là, gia đình ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của xã hội loài người, con người cùng với quá trình tái tạo ra chính bản thân mình thì đồng thời cũng tái tạo ra gia đình. Hai là, chức năng chính của gia đình là tái tạo, sinh sôi nảy nở con người. Ba là, gia đình được tạo bởi hai mối quan hệ chủ yếu: quan hệ hôn nhân (chồng, vợ) và quan hệ huyết thống (cha mẹ, con cái).
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tổ chứa UNESCO của Liên hiệp quốc đã quyết định lấy năm 1994 là năm quốc tế gia đình và thống nhất khẳng định: “Gia đình là một yếu tố tự nhiên cơ bản, một đơn vị kinh tế xã hội. Gia đình được coi như một giá trị vô cùng quý báu của nhân loại, cần được giữ gìn và phát huy”, trên tinh thần đó UNESCO đã đưa ra định nghĩa: “Gia đình là một nhóm người có quan hệ họ hàng, cùng sống chung và có ngân sách chung với các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi về mọi mặt được pháp luật thừa nhận”. Ở Việt Nam cũng có nhiều nghiên cứu về gia đình: Xét từ góc độ xã hội học: Gia đình là một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở các quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc nuôi dưỡng các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi (kinh tế, văn hoá, tình cảm) giữa họ, là những quan hệ có tính pháp lý được nhà nước thừa nhận và bảo vệ, đồng thời có những quy định rõ ràng về quyền được phép và những cấm đoán trong quan hệ tiìn dục giữa các thành viên trong gia đình [2, tr. Xét từ góc độ triết học: Gia đình là một nhóm xã hội có quan hệ gắn bó về hôn nhân hoặc huyết thống, tâm sinh lý, có chung những giá trị vật chất, tinh thần, ổn định trong các thời điểm lịch sử.
Gia đình là một đơn vị nhỏ nhất của xã hội có mối quan hệ chặt chẽ với xã hội và là tấm gương phản chiếu mọi thành tựu,cũng như mâu thuẫn xã hội. Khái quát các nội dung trên, tác giả Lê Thi cho rằng: Khái niệm gia đình được sử dụng để chỉ một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân và huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó và chung sống (cha mẹ, con cái, ông bà, họ hàng nội ngoại), gia đình có thể bao gồm một số người được gia đình nuôi dưỡng, tuy không có quan hệ huyết thống, các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi (kinh tế, văn hóa, tình cảm), giữa họ có những điều ràng buộc bởi tính pháp lý, được nhà nước thừa nhận và bảo vệ (được ghi rõ trong luật hôn nhân và gia đình của nước ta). Đồng thời trong gia đình có những quy định rõ ràng về quyền được phép và những cấm đoán trong quan hệ tình dục giữa các thành viên [30, tr. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khái niệm gia đình mang tính pháp lý ở Việt Nam ghi nhận trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (Điều 8) xác định: Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền lợi giữa họ với nhau theo luật định.
Qua những quan niệm trên về gia đình chúng ta có thể thấy rằng gia đình được thừa nhận ở các quan hệ cơ bản sau: Một là, gia đình là một thiết chế xã hội được hình thành trước hết trên cơ sở quan hệ hôn nhân. Quan hệ hôn nhân là sự liên kết giữa một nam và một nữ theo quy định của pháp luật, nhằm đề cùng sống với nhau và xây dựng gia đình hạnh phúc. Quan hệ hôn nhân (quan hệ vợ chồng) được biểu hiện là một loại quan hệ xã hội mà một nam và một nữ kết hợp với nhau để sinh sản và cùng nuôi dạy con cái. Trong các xã hội có giai cấp, quan hệ hôn nhân là một hiện tượng xã hội mang tính giai cấp.
Mỗi hình thái kinh tế - xã hội có các kiểu hôn nhân đặc trưng và các giai cấp thống trị dùng luật để điều chỉnh các quan hệ hôn nhân cho phù hợp với ý chí và lợi ích của giai cấp mình. Hai là, quan hệ huyết thống là quan hệ giữa những người cùng trực hệ dòng máu, là sự tiếp tục và là hệ quả tất yếu của quan hệ hôn nhân, nó chỉ phát triển tốt đẹp dựa trên quan hệ tình yêu và hôn nhân chính đáng, hợp pháp. Ba là, quan hệ nuôi dưỡng là loại quan hệ hình thành giữa chủ thể và đối tượng được nuôi dưỡng, họ gắn bó với nhau vì trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ, được họ hàng ủng hộ và được pháp luật thừa nhận, bảo vệ. Như vậy, dù diễn đạt ở những cách khác nhau nhưng chúng ta có thể cùng thống nhất về cơ bản: Gia đình là một cộng đồng người được xây dựng trên cơ sở các mối quan hệ cơ bản là quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng giữa các thành viên được xã hội thừa nhận.
Về chức năng giáo dục của gia đình TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Gia đình có các chức năng cơ bản như chức năng tái sản xuất ra con người, chức năng kinh tế, chức năng tiêu dùng, chức năng giáo dục và chức năng thoả mãn các nhu cầu tâm sinh lý, tình cảm giữa các thành viên trong gia đình. Trong đó chức năng giáo dục có một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành những thế hệ công dân mới, có ích cho gia đình và cho xã hội, là lớp người kế cận người đi trước, là chủ nhân tương lai của đất nước C.Mác khẳng định: con người là một thực thể trong đó có sự thống nhất giữa hai mặt sinh vật - xã hội. Sau khi lọt lòng mẹ, nếu đứa trẻ không được sống trong môi trường xã hội, nếu không được hưởng những chế độ giáo dục của gia đình và của xã hội đứa trẻ không trở thành một con người đúng nghĩa. Những thành tựu khoa học đã chứng minh quan điểm này là đúng đắn.
Bởi vậy có thể khẳng định rằng, quá trình chuyển biến đứa trẻ thành một con người thực sự được diễn ra trong môi trường xã hội, trong đó đặc biệt là sự chăm sóc và giáo dục của gia đình. Thực tiễn cuộc sống ngày nay đã chỉ ra rằng: chăm sóc và giáo dục trong gia đình có vai trò đặc biệt to lớn, vì nuôi dưỡng, giáo dục gia đình mang tính cá biệt và đậm nét giáo dục thông qua tình cảm và là môi trường đầu tiên cho con người lớn lên. Giáo dục trong nhà trường và xã hội không phân biệt giới tính, trí tuệ sức khoẻ, đặc điểm nhân cách, hoàn cảnh sống của mỗi cá nhân. Chức năng giáo dục của gia đình thể hiện ở một số nội dung cơ bản như: giáo dục tri thức, giáo dục về kỹ năng lao động, giáo dục về đạo đức lối sống, giáo dục về thể chất thẩm mỹ, giáo dục về giao tiếp ứng xử… diễn ra trong mọi giai đoạn của con người (từ trong bào thai, giai đoạn tuổi thơ, trưởng thành) và được thực hiện qua tất cả các hoạt động tổ chức đời sống vật chất và tinh thần cho các thành viên trong gia đình.
Trong xã hội xã hội chủ nghĩa chức năng giáo dục của gia đình thực sự góp phần lớn vào việc đào tạo thế hệ trẻ xây dựng con người mới nói chung trong việc duy trì và phát triển đạo đức, văn hoá dân tộc. Giáo dục gia đình là bộ phận của giáo dục xã hội, giáo dục trong gia đình mới đòi hỏi sự cố gắng cao và những hiểu biết về khoa học, tâm lý… của cha mẹ và của mọi thành viên khác, kết hợp chặt chẽ môi trường giáo dục (gia đình, nhà trường, xã hội) để TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tiến tới mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước là một yêu cầu quan trọng. Những nội dung cơ bản trong giáo dục gia đình 1. Giáo dục tri thức Giáo dục tri thức trong gia đình khác với quá trình giáo dục tri thức ở trường học cũng như ở các môi trường khác.
Giáo dục tri thức trong gia đình là quá trình các thế hệ đi trước mà trực tiếp nhất là cha mẹ sau đó là ông bà, anh chị, các cô dì, chú bác chỉ bảo cho đứa trẻ những kiến thức cơ bản giúp đứa trẻ sớm nhận biết, làm quen và hòa nhập được với thế giới xung quanh. Ngay từ khi đứa trẻ còn ở giai đoạn sơ sinh chưa nhận biết được nhiều về thế giới bên ngoài, các thành viên trong gia đình đã chú ý đến giáo dục cho trẻ để khích thích các giác quan của trẻ. Vì sự phát triển của các giác quan chính là sự phát triển ban đầu của nhận thức, của trí tuệ thô sơ nhất khi con người mới lọt lòng.