Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1.1 Các khái niệm công cụ 1.1 Khái niệm gia đình Có thể thấy, “gia đình” là một trong những phạm trù xuất hiện sớm nhất trong lịch sử nhân loại. Từ “gia đình” có lẽ được sử dụng nhiều nhất trong ngôn ngữ hàng ngày và trong nhiều lĩnh vực hoạt động xã hội cũng như trong nhiều nghiên cứu về gia đình, song hiếm khi nó có một định nghĩa rõ ràng. Trong thực tế, không có một loại hình gia đình đồng nhất cũng như không có một hình thức gia đình giống nhau ở mọi nơi và ở mọi thời điểm.
Gia đình không chỉ khác nhau giữa các quốc gia và nền văn hóa mà thậm chí còn không giống nhau từ gia đình này đến gia đình khác ngay trong một nền văn hóa (Lê Ngọc Văn, 2011, tr. Cho dù gia đình được được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, song tựu chung lại, các định nghĩa gia đình thường được xác định theo một trong hai cách tiếp cận, đó là cách tiếp cận vi mô hoặc vĩ mô. Theo cách tiếp cận vĩ mô, gia đình được định nghĩa với tư cách là một thiết chế xã hội, một đơn vị cơ sở của xã hội, thực hiện những chức năng xã hội nhất định, trước hết là chức năng tái sản xuất ra con người. Trong cuốn Từ điển xã hội học của G.
Trommsdorff (Nhà xuất bản Thế giới, 2002), gia đình là một nhóm thuộc loại đặc biệt vì nó biểu hiện một cấu trúc vai trò nhất định (bố, mẹ, con gái, con trai, cháu, em…), với nó thì sự tách biệt về giới tính và thế hệ là tiêu chí của cơ cấu gia đình (một hay đa thế hệ; nam/nữ) và qua đó chuyển hóa một quan hệ hợp tác và đoàn kết rất đặc biệt mà ở tất cả các xã hội đều tổ chức theo nghi lễ sự thành lập của nó. Ngoài ra, xã hội cũng trao cho nhóm đặc biệt này những chức năng rất đặc biệt (G. Như vậy, gia đình là một nhóm có cấu trúc và đảm nhận những chức năng nhất định trong xã hội. Theo cách tiếp cận vi mô, gia đình được định nghĩa với tư cách là một nhóm xã hội với những tiêu chí cụ thể để nhận diện nó.
Nguyễn Đình Tấn, Lê Tiêu La (1999) đã đưa ra định nghĩa tương đối ngắn gọn: “Gia đình là một nhóm xã hội nhỏ 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đặc thù, có đặc trưng cơ bản là được thiết lập trên cơ sở của hôn nhân mà từ đó hình thành các quan hệ huyết thống ruột thịt giữa các thành viên” (Nguyễn Đình Tấn, Lê Tiêu La, 1999, dẫn theo Lê Ngọc Văn, 2011…). Tuy nhiên, định nghĩa này tương đối hẹp vì chỉ hướng vào khía cạnh sinh học của gia đình. Tổ chức UNESCO của Liên hiệp quốc năm 1994 đưa ra định nghĩa: “Gia đình là một nhóm người có quan hệ họ hàng, cùng sống chung và có ngân sách chung” (dẫn theo Nguyễn Linh Khiếu, 2003:33). Cục Điều tra dân số Mỹ cung cấp khái niệm gia đình là “hai hoặc hơn hai người, bao gồm chủ hộ, có quan hệ với nhau bởi huyết thống, hôn nhân hoặc quan hệ với nhau bởi huyết thống, hôn nhân hoặc quan hệ con nuôi (nghĩa dưỡng) và những người sống cùng với nhau như một hộ gia đình” (http://www.
Theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của Luật này. Như vậy, có thể rút ra một số tiêu chí xác định gia đình: là một nhóm người (có từ hai người trở lên), có quan hệ với nhau bởi hôn nhân, huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, có đặc trưng giới tính qua quan hệ hôn nhân, cùng chung sống và có ngân sách chung. Luận văn này sử dụng định nghĩa gia đình: “Gia đình là một nhóm người, có quan hệ với nhau bởi hôn nhân, huyết thống hoặc quan hệ nghĩa dưỡng, có đặc trưng giới tính qua quan hệ hôn nhân, cùng chung sống, có ngân sách chung”. Trong đó, luận văn chú ý đến các khía cạnh của gia đình như: mối quan hệ huyết thống hoặc nghĩa dưỡng, cùng chung sống.
Xét theo số thế hệ trong gia đình, chúng ta có thể phân loại các gia đình thành: Gia đình hạt nhân, gia đình mở rộng và gia đình gốc. Gia đình hạt nhân chỉ bao gồm 2 thế hệ: Cha mẹ và thế hệ con cái. Trong hình thái này, gia đình bao gồm ít nhất 3 trục quan hệ cơ bản: Quan hệ vợ chồng; Quan hệ cha mẹ - con cái. Nếu gia đình có từ 2 con trở lên, thì thêm trục quan hệ giữa con cái với nhau tức là quan hệ anh chị em (dẫn theo Mai Huy Bích, 2010).
Trong gia đình hạt nhân có hai biến thể, một là gia đình đầy đủ, trong đó có đủ cả hai vợ chồng với con cái chưa kết hôn của 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Một biến thể khác là gia đình không đầy đủ, cũng bao gồm hai thế hệ (cha mẹ và con cái chưa kết hôn) nhưng trong thế hệ thứ nhất (tức thế hệ cha mẹ) không đủ hai người của cặp vợ chồng, mà chỉ có một người (hoặc mẹ hoặc cha) do nhiều nguyên nhân khác nhau (ly hôn, góa, không hoặc chưa kết hôn mà có con…). Trong gia đình mở rộng, có thể là sự mở rộng hạt nhân cơ bản theo chiều dọc, ví dụ bao gồm các thành viên của thế hệ thứ ba (như bố mẹ chồng hoặc bố mẹ vợ) hay theo chiều ngang gồm cả thành viên của thế hệ ngang hàng với người vợ hoặc người chồng (cụ thể là anh chị em chồng hay vợ hai vợ ba). Gia đình mở rộng có ưu thế trong việc tập trung nhân lực cho sản xuất gia đình, và các thế hệ có thể giúp đỡ lẫn nhau vượt qua những khó khăn trong đường đời, khắc phục sức tái sinh sản.
Tuy nhiên, loại hình gia đình này dễ dẫn đến khác biệt và mâu thuẫn thế hệ. Loại gia đình thứ ba là gia đình gốc, bao gồm cha mẹ già sống với một trong nhiều con trai của họ, cùng với vợ con của anh ta. Nhưng đây không phải là gia đình mở rộng vì hình thái này có tối đa 2 cặp hôn nhân (bố mẹ già và vợ chồng anh con trai) và không phức tạp như hình thái mở rộng trong đó bố mẹ già sống với vài ba cặp vợ chồng các con trai [3]. Theo Điều tra quốc gia định kỳ về hộ gia đình 2006, phần lớn hộ gia đình Việt Nam hiện tại là gia đình hạt nhân gồm hai thế hệ (chiếm 73%).
Gia đình 3 thế hệ trở lên – gia đình mở rộng chiếm khoảng 19%. Loại gia đình thiếu khuyết (cha, mẹ đơn thân, hộ độc thân khác) chiếm khoảng 8%. Theo số liệu Điều tra Gia đình Việt Nam 2006, tỷ lệ gia đình hạt nhân ở thành thị thấp hơn ở nông thôn và tỷ lệ gia đình có từ 3 thế hệ trở lên ở thành thị cao hơn nông thôn. Qui mô gia đình ở đô thị nhỏ hơn so với nông thôn.
Trung bình qui mô hộ gia đình là 3,7 người, trong đó ở thành thị là 3,6 và nông thôn là 3,8 người [28].2 Khái niệm học sinh trung học phổ thông Xét theo bậc học trong quy định của nhà nước ta thì học sinh trung học phổ thông là học sinh lớp 10, lớp 11 và lớp 12. 24 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Xét theo góc độ của khoa học tâm lý, học sinh trung học phổ thông là học sinh thuộc giai đoạn tiền thanh niên. Đó là giai đoạn con người vừa chuyển từ tuổi vị thành niên sang giai đoạn của thanh niên (giai đoạn của người trưởng thành) [22].3 Khái niệm vai trò Theo từ điển xã hội học Oxford (nhóm dịch giả: Bùi Thế Cường, Đặng Thị Việt Phương, Trịnh Huy Hoá) nói đến vai trò tức là nhấn mạnh vào những kì vọng xã hội gắn với những vị thế hay vị trí nhất định trong xã hội và nó phân tích sự vận hành của những kì vọng ấy. Có hai cách tiếp cận khác nhau trong lí thuyết vai trò: Theo cách tiếp cận thứ nhất là phát triển nhân học xã hội, Ralph Linton giải thích cấu trúc về các vai trò trong hệ thống xã hội.
Ở đây, vai trò trở thành các nhóm quyền lợi và nghĩa vụ quy chuẩn được thiết chế hoá nghiêm ngặt. • Nội dung cách tiếp cận thứ nhất bao gồm: Cách giải thích cấu trúc về vai trò, xác định một vị thế trong xã hội, ví dụ : Vai trò của một giáo viên và sau đó cố gắng mô tả một quyền lợi và trách nhiệm chuẩn mực gắn với một kiểu loại lí tưởng của vị trí này. Những kì vọng xã hội ấy cấu thành vai trò. Bất cứ ai cũng giữ một vị thế (như làm cha mẹ, làm giáo viên).
Nó tạo nên một hệ các vị thế, mỗi một vị thế chứa đựng một vai trò riêng của nó. Mỗi một vai trò lại gắn với một nhóm đối tác khác nhau và mỗi nhóm đó lại có một hệ các kỳ vọng riêng của họ. Ví dụ: Một giáo viên có thể có các đối tác vai trò là sinh viên, đồng nghiệp, trưởng khoa, người quản lí và phụ huynh, mỗi người trong số họ sẽ có những kỳ vọng tương đối khác nhau về hành xử của giáo viên. Tổng những kỳ vọng của những đối tác này gọi là hệ vai trò.
Theo cách tiếp cận thứ hai là tiếp cận tâm lí học xã hội, các tác giả tập trung vào các quy trình chủ động tạo dựng, tiếp nhận và đóng vai trò. Đây là một phần của truyền thống tương tác biểu trưng và kịch trường trong đó truyền thống kịch trường phân tích đời sống xã hội thông qua phép ẩn dụ nghệ thuật sân khấu. 25 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com • Nội dung cách tiếp cận thứ hai gồm: Cách tiếp cận này tập trung nhiều hơn vào những khía cạnh chức năng của vai trò, nó xem xét những tương tác mà từ đó con người đóng các vai trò của mình chứ không phải mô tả vị trí của những vai trò ấy trong cơ cấu xã hội. Ở đây nhấn mạnh những cách thức mà một người thực hiện những vai trò của người khác (thực hiện vai trò), xây dựng vai trò của mình (tạo dựng vai trò) dự kiến những phản ứng của những người khác đối với vai trò của mình và cuối cùng là đóng vai trò cụ thể của mình (đóng vai trò).