Chương I: Khung lý thuyết và những bằng chứng thực nghiệm về vai trò của FDI đối với cán cân thương mại Việt Nam; Chương II: Thực trạng về cán cân thương mại Việt Nam và nguồn vốn FDI giai đoạn 1999 - 2010; Chương III: Đề xuất biện pháp nhằm thu hút hiệu quả nguồn vốn FDI và hướng đến cân bằng cán cân thương mại Việt Nam hiện nay. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƢƠNG I. KHUNG LÝ THUYẾT VÀ CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ VAI TRÒ CỦA FDI ĐỐI VỚI CÁN CÂN THƢƠNG MẠI Những tranh luận về cán cân thương mại luôn là đề tài hấp dẫn nhiều nhà nghiên cứu trong nhiều năm qua, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, khi tình trạng bất cân bằng thương mại toàn cầu đang diễn ra ngày càng căng thẳng. Các nghiên cứu tập trung phân tích, đo lường ảnh hưởng của các nhân tố vĩ mô tác động đến cán cân thương mại, chủ yếu tiếp cận theo hướng tác động của tỷ giá hối đoái, thu nhập trong nước và nước ngoài (theo các lý thuyết truyền thống về các nhân tố tác động đến cán cân thương mại), nhằm tìm ra các giải pháp hướng đến cân bằng thương mại.
Trong nghiên cứu này, tác giả sẽ đi sâu phân tích ảnh hưởng của nhân tố vĩ mô đến cán cân thương mại dưới một góc độ khác: tác động của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI – Foreign Direct Investment).1 Vai trò của FDI đối với cán cân thƣơng mại Nguồn vốn FDI (Foreign Direct Investment) có vai trò tích cực nhờ đi kèm với vốn FDI là chuyển giao công nghệ, kỹ năng quản lý và tạo điều kiện cho nước nhận vốn FDI tiếp cận được phương pháp quản lý hiện đại, cách thức tổ chức doanh nghiệp đa dạng và hiệu quả. Tác động của FDI lên cán cân thương mại của nước tiếp nhận vốn được xem xét ở hai khía cạnh, tác động trực tiếp và tác động gián tiếp: Tác động trực tiếp Tác động trực tiếp của nguồn vốn FDI lên xuất khẩu của nước chủ nhà được phân làm bốn nhóm khác nhau theo tính chất của sản xuất: Chế biến nguyên liệu thô trong nước; Chuyển đổi ngành sản xuất hàng thay thế nhập khẩu thành xuất khẩu; LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Hàng xuất khẩu là thành phẩm mới có tính thâm dụng lao động; Quy trình sản xuất thâm dụng lao động và chuyên môn hóa vào linh kiện theo kết hợp hàng dọc bên trong các ngành công nghiệp quốc tế. Doanh nghiệp ở những quốc gia đang phát triển khi tìm cách mở rộng xuất khẩu của mình sang những quốc gia phát triển sẽ gặp phải những khó khăn lớn về thiết lập mạng lưới phân phối, nắm bắt kịp thời các thay đổi của thị hiếu người tiêu dùng, hiểu rõ các khía cạnh kỹ thuật của chỉ tiêu công nghiệp và tiêu chuẩn an toàn, và xây dựng một hình ảnh sản phẩm mới. Thiếu các kỹ năng đó sẽ là một yếu tố then chốt ngăn trở việc thâm nhập thị trường của các nhà xuất khẩu từ những quốc gia đang phát triển.
Do đó, việc mở cửa tiếp nhận các luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ tạo ra nhiều cơ hội cho hàng xuất khẩu của nước chủ nhà, do các MNCs có thể có tiềm năng xuất khẩu tốt hơn các doanh nghiệp địa phương của các quốc gia đang phát triển, bởi các tiếp xúc kinh doanh của chúng ở nước ngoài, vượt trội về kỹ năng tiếp thị và công nghệ, cả về sản phẩm và qui trình, và tri thức dồi dào hơn nói chung. Đặc biệt với những quốc gia đang phát triển thuộc nhóm nghèo nhất, họ thiếu hầu hết các tài sản này, các hãng nước ngoài có thể là một trong số những giải pháp để tăng xuất khẩu. Tác động gián tiếp Ngoài ảnh hưởng trực tiếp đến xuất khẩu, sự liên kết giữa các MNCs với doanh nghiệp trong nước cũng có nhiều tác động gián tiếp có lợi cho xuất khẩu. Các doanh nghiệp trong nước có thể học phương cách để thành công trong các thị trường ở nước ngoài đơn giản bằng cách bắt chước MNCs.
Ví dụ, MNCs có thể có những công ty thành viên ở những thị trường xuất khẩu mục tiêu để có thể vận động hành lang cho tự do hóa thương mại, và các doanh nghiệp trong nước có thể hưởng lợi từ bất kỳ sự cắt giảm nào về hàng rào thương mại mà chúng đạt được. Có thể có công suất thừa trong các cơ sở tiếp thị và phân phối do MNCs thiết lập, mà các doanh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 nghiệp trong nước có thể sử dụng ở mức chi phí biên hoặc cao hơn. MNCs còn có thể đào tạo nhân viên địa phương của chúng về quản lý xuất khẩu, và những kỹ năng này có thể lan truyền sang các doanh nghiệp trong nước nếu nhân viên của MNCs thay đổi công việc. Các kênh khác giúp lan truyền thông tin về điều kiện thị trường nước ngoài là các hiệp hội thương mại hoặc các tổ chức công nghiệp khác, trong đó các MNCs thường là hội viên quan trọng.
“Ngoại tác lan truyền về tiếp cận thị trường” kiểu này có thể là quan trọng nhất khi các nguồn lực địa phương là yếu kém nhất, nghĩa là ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam.2 Các nghiên cứu trƣớc đây về cán cân thƣơng mại và vai trò của FDI đối với cán cân thƣơng mại Các nghiên cứu của các tác giả nƣớc ngoài Hầu hết các nghiên cứu đều tập trung phân tích ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái thực đa phương, thu nhập quốc dân thực trong nước và thu nhập quốc dân thực của các đối tác thương mại đến cán cân thương mại của quốc gia nghiên cứu. Nghiên cứu của Singh (2002), bằng cách sử dụng lý thuyết đồng liên kết (Cointegration theory) và mô hình hiệu chỉnh sai số (ECM – Error Correction Model) và sử dụng số liệu thống kê từ năm 1960-1995 tác giả đã thực hiện nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái thực (REER), thu nhập quốc dân thực trong nước và thu nhập quốc dân thực của đối tác thương mại tác động lên cán cân thương mại của Ấn Độ. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ giá hối đoái thực và thu nhập thực trong nước có một ảnh hưởng đáng kể, trong khi thu nhập của đối tác thương mại tác động không mạnh đến cán cân thương mại nước này. Nghiên cứu của Nusrate Aziz thuộc Trường Đại học Birmingham, Vương quốc Anh nghiên cứu công bố trong tháng 6 năm 2008, trong nghiên cứu tác giả cũng sử dụng lý thuyết đồng liên kết (Cointegration theory) và mô hình hiệu chỉnh sai số (ECM – Error Correction Model).
Nghiên cứu đo lường ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái thực LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 đa phương, thu nhập quốc gia thực trong nước và thu nhập quốc gia thực của đối tác thương mại tác động đến cán cân thương mại Bangladesh như thế nào. Tác giả đã sử dụng dữ liệu hàng năm từ năm 1972 đến năm 2005 để thực hiện nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ giá hối đoái thực đa phương, thu nhập quốc gia thực trong nước và thu nhập quốc gia thực của đối tác thương mại có ảnh hưởng đến cán cân thương mại Bangladesh cả trong ngắn hạn lẫn dài hạn. Một số ít hơn các nghiên cứu về vai trò của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đối với cán cân thương mại: Yongqing Wang và Guanghua Wan (11/2008) với nghiên cứu “China’s Trade Imbalances: The role of FDI”, trình bày tác động của FDI đối với thặng dư thương mại của Trung Quốc với nguồn dữ liệu từ năm 1979 – 2007, sử dụng mô hình SURE (Seemingly Unrelated Regression Estimation) (trong ngắn hạn) và mô hình ARDL (Autoregressive Distributed Lags) (trong dài hạn) để ước lượng tác động của nguồn vốn FDI.
Kết quả nghiên cứu cho thấy: những nhân tố chính của cán cân thương mại Trung Quốc là: thu nhập quốc gia thực của Trung Quốc, thu nhập quốc gia thực của thế giới, tỷ giá hối đoái thực và nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Nghiên cứu chỉ ra rằng, FDI đã góp phần mở rộng xuất khẩu và đóng góp tích cực đối với thặng dư thương mại của Trung Quốc. Điều thú vị là, không có số liệu đáng tin cậy nào về việc cán cân thương mại Trung Quốc được cải thiện nhờ vào việc định giá thấp đồng nhân dân tệ như các lý thuyết về đường cong J đã đề xuất. Nghiên cứu của Nádia Campos Pereira và Cristina Lelis Leal Calegario (2004) nhằm xem xét mối quan hệ giữa FDI và cán cân thương mại Brazil với số liệu thống kê từ một số công ty được lựa chọn trong giai đoạn1998 – 2003, sử dụng phân tích hồi quy OLS (Ordinary Least Square) để ước lượng riêng rẽ mối quan hệ giữa FDI với xuất khẩu và FDI với nhập khẩu.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù trong ngắn hạn, FDI làm tăng lượng nhập khẩu (8%) nhưng trong dài hạn, FDI đóng vai trò quan trọng việc gia tăng xuất khẩu (16%). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Các nghiên cứu của các tác giả trong nƣớc Trong nhiều năm qua, đã có nhiều nghiên cứu khác nhau về các nhân tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại mà phổ biến là ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái thực đa phương và thu nhập quốc dân thực, các nghiên cứu sử dụng phương pháp bình phương bé nhất trong mô hình định lượng, có rất ít nghiên cứu sử dụng lý thuyết đồng liên kết. Các nghiên cứu sử dụng số liệu hàng quý để phân tích. Dưới đây là một số nghiên cứu điển hình: Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hữu Tuấn (2010) về “Thâm hụt thƣơng mại và hƣớng đến cân bằng cán cân thƣơng mại Việt Nam”, trong nghiên cứu này, tác giả phân tích tác động của các nhân tố vĩ mô nhằm tìm ra nguyên nhân gây thâm hụt thương mại Việt Nam giai đoạn quý 1 năm 1999 đến quý 1 năm 2010.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ giá hối đoái thực đa phương có ảnh hưởng đến cán cân thương mại nhưng nếu dùng biện pháp phá giá mạnh VND để cải thiện cán cân thương mại thì không đạt hiệu quả trong hoàn cảnh hiện nay. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích đồng tích hợp của Engle – Granger (1987) và Johansen (1990) để đo lường các mối quan hệ trong dài hạn giữa các biến, mô hình điều chỉnh sai số (ECM) để đo lường mối quan hệ giữa các biến trong ngắn hạn, dựa trên cơ sở dữ liệu theo quý giai đoạn 1999 – 2010. Pham Thi Hong Hanh va Nguyen Thinh Duc (2008) với nghiên cứu nhằm xem xét mối quan hệ giữa FDI, xuất khẩu và tỷ giá hối đoái thực song phương.