CHƯƠNG 1 BỐI CẢNH VÀ NGUY CƠ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM 1. 1 Hiện trạng phát thải trong một số ngành trọng điểm 1.1 Phát thải khí nhà kính Sử dụng năng lượng và phát thải khí nhà kính Nhu cầu năng lượng của Việt Nam đã tăng 5 lần trong giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2006 cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh. Đồng thời, phát thải khí nhà kính từ ngành năng lượng cũng gia tăng. Những giải pháp như phát triển nguồn năng lượng tái tạo và thúc đẩy việc sử dụng, bảo tồn năng lượng tái tạo, quản lý chất thải và quản lý rừng bền vững đang là vấn đề rất cấp thiết.
Theo báo cáo quốc gia lần thứ 2 (năm 2010), tổng lương phát thải khí nhà kính năm 2000 của Việt Nam là 150 triệu tấn (trong đó CO2: 44. Nông nghiệp là lĩnh vực phát thải lớn nhất (43.1%), tiếp đến là lĩnh vực năng lượng (35%), sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp - LULUCF (10%), công nghiệp (6.6%) và lĩnh vực chất thải (5. Tuy nhiên, về tốc độ tăng trưởng từ năm 1994 đến năm 2006, thì lĩnh vực chất thải lại là lớn nhất (tăng gấp 3 lần), sau đó là công nghiệp và năng lượng (tăng gấp 2 lần), còn lĩnh vực nông nghiệp (chỉ tăng 1.1 Hiện trạng phát thải khí nhà kính ở Việt Nam Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường, Thông báo quốc gia lần thứ 2 (SNC) tới UNFCCC, 2010. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 Kết quả tổng hợp kiểm kê phát thải khí nhà kính năm 1994, 1998, 2000 (Đơn vị: phát thải hàng năm- triệu tấn CO2 tương đương (CO2e)) Năm 1994 1998 2000 Phát thải Phát thải Phát thải Lĩnh vực CO2e % CO2e % CO2e % (triệu tấn) (triệu tấn) (triệu tấn) Năng lượng 25.0 Nguồn: UN Việt Nam, Phát thải khí nhà kính và các lựa chọn giảm thiểu phát thải ở Việt Nam, và các dự án hỗ trợ của Liên Hiệp Quốc, 2013 Lĩnh vực công nghiệp và giao thông có xu hướng ngày càng tiêu thụ nhiều năng lượng hơn trong khi tiêu thụ năng lượng hộ gia đình lại giảm.2 Dự đoán phát thải trong tương lai Việt Nam mong muốn duy trì mức độ phát thải như hiện nay đến năm 2030 trong lĩnh vực nông nghiệp và LULUCF.
Tuy nhiên, mức độ phát thải từ lĩnh vực năng lượng dự đoán sẽ tăng gấp 3 lần chủ yếu là do mở rộng các khu công nghiệp và gia tang dân số. Số liệu mới nhất về phát thải KNK của năm 2005 sẽ được công bố vào năm 2014 trong khuôn khổ dự án xây dựng năng lực kiểm kê KNK của JICA. Trong đó, sẽ bao gồm cả số liệu phát thải dự đoán cho 2010. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Dự đoán phát thải KNK tại Việt Nam cho các năm 2010, 2020, 2030 theo báo cáo quốc gia lần thứ 2 (Đơn vị: phát thải hàng năm- triệu tấn CO2 tương đương (CO2e)) Lĩnh vực 2010 2020 2030 Năng lượng 113.2 Nguy cơ tác động từ biến đổi khí hậu 1.1 Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xuất bản “Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam” vào năm 2009 và cập nhật vào năm 2012, trong đó dự đoán nhiệt độ, lượng mưa và mực nước biển dâng trong thế kỷ 21.
Việt Nam được chia thành 7 vùng khí hậu: Tây BẮc, Đông Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung bộ, Nam trung Bộ, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long. Kịch bản này được xây dựng dựa trên Báo cáo đánh giá lần thứ 4 của IPCC theo các kịch bản phát thải cao, (A2), kịch bản phát thải thấp (B1) và kịch bản phát thải trung bình (B2). Theo các kịch bản này, một số thông số chính được dự đoán như sau: Nhiệt độ Bốn vùng khí hậu phía bắc Ba vùng khí hậu phía Nam 2020 Tăng 0.4oC 2050 Vùng Bắc trung bộ: tăng Tăng 0.5oC Các vùng khác: tăng 1.3oC Lượng mưa Bốn vùng khí hậu phía bắc Ba vùng khí hậu phía Nam 2020 Tăng 1.7% 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2% (theo kịch Tăng 1. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Mức tăng nhiệt độ, lượng mưa và mực nước biển theo 3 kịch bản biến đổi khí hậu (so với giai đoạn 1980- 1999) Nguồn: Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường (2012) 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Tác động của biến đổi khí hậu tại Việt Nam Lãnh thổ Việt Nam nằm trong vùng nội chí tuyến, đồng thời nằm ở rìa phía Đông Nam của phần Châu Á lục địa, giáp với biển Đông.
Với vị trí địa lý như vậy nên khí hậu Việt nam là khí hậu nhiệt đới gió mùa. Độ cao mặt trời lớn và ít biến đổi trong năm, ngoài ra do lãnh thổ Việt Nam trải dài trên 150 vĩ và ¾ diện tích Việt Nam là đồi núi, cùng với sự chi phối rất mạnh của chế độ gió mùa nên chế độ nhiệt ẩm có sự phân hóa rất mạnh theo gió mùa. Theo đánh giá, Việt Nam sẽ chịu tác động bởi tất cả các yếu tố gây ra từ biến đổi khí hậu (nhiệt độ, nước biển dâng, thiên tai, các hiện tượng thời tiết cực đoan…) và tác động lên tất cả các lĩnh vực, đời sống, kinh tế - xã hội của người dân, đặc biệt là khu dân cư tại các vùng dễ bị tổn thương.2 Tác động của biến đổi tới một số số lĩnh vực/ngành tại Việt Nam Tài Nông nguyên nghiệp Y tế và Lâm sức khỏe nghiệp BĐKH Năng Môi lượng trường Du lịch a. Tác động đối với Tài nguyên đất Tác động tới diện tích đất Với đường bờ biển dài hơn 3.000 km, Việt Nam được xem là một trong những nước chịu tác động mạnh mẽ nhất của mực nước biển dâng do hậu quả của sự nóng lên toàn cầu.
Theo ước tính, nếu nước biển dâng lên 0,25 m so với hiện tại, diện tích đất thấp hơn mực nước biển của Việt Nam sẽ vào khoảng trên 6.230 km2, khoảng 2 triệu dân, tương đương 2,4% dân số, sẽ bị ảnh hưởng. Đánh giá của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009) cho thấy, với kịch bản phát thải cao và trung bình điều này có thể xảy ra vào khoảng những năm 2040 – 2045. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khi nước biển dâng 0,50 m, diện tích dưới mực nước biển lên tới 14034 2 km , chiếm 4,2% diện tích, ảnh hưởng đến 4,7 triệu người, tương đương 5,7% dân số. Nếu nước biển dâng 1,0 m thì có đến 9,1% diện tích đất của Việt Nam sẽ nằm dưới mực nước biển và 16% dân số bị ảnh hưởng.
Trên đồng bằng sông Hồng, khi nước biển dâng 0,25 m, diện tích dưới mực nước biển khoảng trên 100 km2, chiếm gần 1% diện tích toàn vùng, ảnh hưởng đến 0,1 triệu người, tức là khoảng 0,7% dân số. Với nước biển dâng 0,5 m, diện tích dưới mực nước biển đã vượt 200 km2, tương đương 1,5%, và ảnh hưởng đến 0,2 triệu người, khoảng 1,4% dân số sinh sống trong vùng. Tác hại tăng lên nhanh chóng khi nước biển dâng 1,0 m, diện tích dưới mực nước biển lên đến 1.668 km2, mất 11,2% và ảnh hưởng đến gần 2 triệu người, khoảng trên10% dân số. Trên đồng bằng sông Cửu Long, khi nước biển dâng 0,25 m, diện tích dưới mực nước biển là 5.428 km2, chiếm 14% và ảnh hưởng đến 1,8 triệu người, khoảng 9,6 dân số.
Khi nước biển dâng 0,5 m, diện tích dưới mực nước biển là 12.873 km2, chiếm 32% ảnh hưởng tới 4,1 triệu người, tức là 22% dân số. Với mực nước biển dâng 1,0 m, diện tích dưới mực nước biển là 26.856 km2, chiếm 67% diện tích tự nhiên và ảnh hưởng đến 10 triệu người, khoảng 55% dân số. Mặc dù ít hơn nhưng một số nơi thuộc các vùng duyên hải cũng chịu những tác động tương tự, nghĩa là nước biển dâng có nguy cơ nhấn chìm nhiều diện tích đất, gây ảnh hưởng xấu tới cộng đồng cư dân ven biển, đặc biệt là những đô thị đông dân ở các vùng đất thấp. Tác động đối với chất lượng đất Biến đổi khí hậu kéo theo các quá trình sinh lý – hóa học gây thoái hóa đất, tăng cường các quá trình hoang mạc hóa bao gồm: Quá trình ô xy hóa gây thoái hóa đất: Nhiệt độ trung bình và cực trị tăng, tần suất nắng nóng và hạn hán gia tăng, thúc đẩy các quá trình sinh học và sinh hóa, xúc tiến mãnh liệt quá trình ô xy hóa, đưa một khối lượng đáng kể các chất O2, H2O2, N2O vào đất, gây ra thoái hóa đất.
Quá trình mặn hóa: Quá trình mặn hóa sẽ xảy ra phổ biến hơn do hai nguyên nhân chính như sau: 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mực nước biển dâng dẫn đến gia tăng sự xâm nhập mặn: Triều lấn sâu vào đất liền, ngấm mặn theo hệ thống nước ngầm, nhất là khi hạn xảy ra thường xuyên và gay gắt hơn. Quá trình bốc hơi mạnh hơn, dẫn đến muối ở bề mặt tăng lên. Nguyên nhân thứ nhất là phổ biến, nhất là ở vùng cửa sông, cả trong mùa khô lẫn mùa mưa. Vào mùa khô, tình trạng triều lấn, phối hợp với nước ngầm giảm sút, gây mặn hóa các vùng duyên hải.
Về mùa mưa, đồng thời là mùa bão, thủy triều và sóng biển theo các cửa sông tràn vào, mặn hóa đất phù sa và cát ven biển. Ngoài ra, cũng cần chú ý rằng quá trình mặn hóa còn liên quan đến hoạt động của con người chứ không chỉ do tác động của biến đổi khí hậu, ví dụ như việc khai thác đất ven biển để nuôi trồng thủy sản. Quá trình xói mòn, rửa trôi: Xói mòn, rửa trôi nói chung tăng theo cường độ mưa. Các sự kiện mưa lớn tăng lên sẽ làm gia tăng tốc độ xói mòn, rửa trôi, nhất là ở các vùng núi và những vùng mà lớp phủ thực vật bị tàn phá.
Quá trình này đặc biệt nghiêm trọng khi gia tăng lũ, lũ quét cả về tần suất và cường độ trên nhiều vùng. Quá trình xâm thực xói lở bờ sông: Trong tương lai, do mùa khô và hạn hán dường như trở nên khốc liệt hơn, tình trạng lòng sông bị nâng cao do bồi lắng trở nên phổ biến hơn, đồng thời xói lở và chuyển dịch bờ theo chiều ngang (hiện tượng sông đổi dòng), đe dọa nhiều diện tích canh tác ven các sông bãi. Ngoài ra lòng sông bị bồi lấp cũng bắt nguồn từ sự tăng cường quá trình xói mòn, rửa trôi. Việc phát triển nhiều công trình thủy điện, đắp đập ngăn sông lấy nước cũng làm thay đổi quy luật lòng sông, dẫn đến có thể làm gia tăng quá trình xâm thực, xói lở bờ sông.