CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐBCL GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1.1 Đảm bảo chất lượng giáo dục ĐH trên thế giới Theo tác giả Nguyễn Quang Giao trong bài báo nghiên cứu về “Đảm bảo chất lượng giáo dục và kinh nghiệm của một số trường đại học trên thế giới”đã được đăng trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ - Đại học Đà Nẵng, số: 4(33) năm 2009 đã cho thấy rõ hệ thống đảm bảo chất lượng của một số nước trên thế giới như: Ở Mỹ Đảm bảo chất lượng là một quá trình hoạch định có hệ thống dùng để đánh giá chương trình hoặc một trường ĐH nhằm xác định chuẩn mực giáo dục. Các trường ĐH ở đây chủ yếu kết hợp tự điều chỉnh với sự kiểm định của các tổ chức chuyên môn phi chính phủ (kiểm định các khóa học) và các hiệp hội kiểm định vùng (kiểm định các trường ĐH). Một số đặc điểm cơ bản ở Mỹ là kiểm định luôn luôn gắn liền với công tác tự đánh giá. Thông qua tự đánh giá, trường được kiểm định cung cấp thông tin và các tài liệu cần thiết cho công tác kiểm định.
Về quy trình kiểm định, việc kiểm định luôn gắn liền với đánh giá đồng cấp, tức là những người có cùng chuyên môn tham gia đánh giá. Đối với chuẩn mực đánh giá thì các chuẩn mực đánh giá ở đây thường mềm dẻo và được biến đổi cho phù hợp với sứ mạng của từng trường. Quá trình kiểm định gồm các thành tố sau: Các chỉ số thực hiện, tự đánh giá và đánhgiá ngoài với tập hợp các tiêu chí và các chỉ số đánh giá. Thành tố 1, Các chỉ số: Là các dữ liệu định lượng về nguồn lực và việc thực hiện,gồm: nguồn kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị, thư viện; các mô tả về toàn bộ sinh viên, các chỉ số lựa chọn sinh viên nhập học, tình trạng duy trì tổng số sinh viên và tỷ lệ tốt nghiệp.
Thành tố 2, Tự đánh giá (đánh giá trong):Là mức đo thành tích đạt được so với các chuẩn mực và sự tham vọng của nhà trường (mục đích, mục tiêu của 14 trường). Đánh giá của phần này chủ yếu dựa vào thành tố 1 (các chỉ số thực hiện) và các yếu tố chủ quan. Thành tố 3, Đánh giá ngoài: Là đánh giá của các chuyên gia về thành tích của trường, dựa vào những chuẩn mực. Báo cáo của đánh giá này được cấp cho hai đơn vị đó là trường đại học và cơ quan kiểm định.
Đặc điểm quan trọng đối với kiểm định ở Mỹ là mục đích của kiểm định chất lượng không chỉ đảm bảo trường có trách nhiệm với chất lượng đào tạo mà còn mang lại động lực cải tiến và nâng cao chất lượng CTĐT. Về nội dung kiểm định chương trình, ở Mỹ đã xác định việc kiểm định không chỉ tập trung đánh giá các yếu tố đầu vào mà còn chú trọng cả quá trình đào tạo và chất lượng SV tốt nghiệp ra trường. Trường Đại học Standford (Đại học danh tiếng của Mỹ): Quá trình đảm bảo chất lượng được áp dụng một tập hợp có chủ ý ở mỗi cấp độ thực hiện, gồm: Quá trình phê chuẩn chương trình và chương trình học mới, đánh giá chương trình theo định kỳ, đánh giá liên tục và thu thập dữ liệu. Các quá trình này liên quan đến quá trình chuẩn y, theo dõi kết quả theo thời gian, và sử dụng kết quả đánh giá này để xem lại và cải thiện cấu trúc, các quá trình, chương trình học và chương trình giáo dục học.
Ở Úc Các chính sách, thái độ, hành động và quy trình cần thiết để ĐBCL đang được duy trì và nâng cao. Cơ quan chất lượng của ĐH Úc (AUQA-Australian Universities Quanlity Agency), hoạt động như một quốc gia một cách độc lập, có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, kiểm toán và báo cáo về họat động ĐBCL của các trường ĐH Úc. AUQA được điều hành bời Hội đồng Bộ (với sáu thành viên), hoạt động độc lập với chính phủ, nhưng lại dưới sự chỉ đạo của Hội đồng Giám đốc (có năm thành viên, do Chủ tịch hiệp hội các trường ĐH). Mục tiêu chính là cũng cố lòng tin của công chúng và thị trường quốc tế về chất lượng của các trường ĐH Úc.
AUQA tiếp cận cơ bản nhằm đánh giá chất lượng của các trường ĐH dựa vào hệ thống kiểm soát bên trong của các trường kết hợp với sử dụng kiểm toán ngoài.Thêm vào đó, có một cơ quan quốc gia riêng chịu trách nhiệm về kiểm toán độc lập ngoài các hệ thống bên trong của nhà trường. 15 Trường Đại học Queenland (Học viện đứng đầu ở Úc về giảng dạy và nghiên cứu), cam kết cung cấp khung mẫu cho quản lý và ĐBCL. Tất cả các thành viên trong cộng đồng các trường ĐH có thể đóng góp vào việc cải thiện liên tục thông qua một chu kỳ nối tiếp nhau: lập chiến lược, báo cáo và đánh giá. ĐBCL và quản lý của trường là hoạt động nổ lực tiếp cận các quá trình ở mõi cấp độ đều có động lực thúc đẩy và nâng cao chất lượng, gắn với văn hóa tổ chức của nhà trường.
Ở Thái Lan Đảm bảo chất lượng được giới thiệu qua hệ thống kiểm tra của nhà trường, kiểm toán chất lượng bên ngoài và kiểm định công nhận. Chú trọng các mục tiêu giáo dục ĐH, sự thực hiện,các kết quả hay chỉ số học tập và cải tiến chất lượng. Cơ cấu ĐBCL gồm hai mảng độc lập nhưng gắn kết chặt chẽ với nhau: ĐBCL bên trong do Bộ Công tác ĐH (MUA-the Ministry of University Affairs) quản lý, còn ĐBCL bên ngoài do Cục tiêu chuẩn GD và đánh giá chất lượng quốc gia (ONESQA-Office for National Educational Standards and Quanlity Assessments) quản lý. Chức năng của ONESQA là thăm trường, cung cấp thông tin cho trường và Bộ Công tác ĐH, viết báo cáo đánh giá, giám sát chất lượng đào tạo của các đơn vị.
Chức năng của MUA là đẩy mạnh phong trào chất lượng trong toàn quốc, như: xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng hoạt động thường xuyên, hỗ trợ các trường/khoa nghiên cứu về ĐBCL quốc tế, xã hội hóa công tác ĐBCL, liên kết các trường, các tổ chức ĐBCL quốc tế. MUA còn yêu cầu các trường phải có hệ thống ĐBCL bên trong, đồng thời cung cấp cho các trường ĐH hướng dẫn 9 lĩnh vực chuyên môn bên trong, gồm: sứ mệnh, mục tiêu, kế hoạch; giảng dạy và học tập; các hoạt động vui chơi giải trí của SV; nghiên cứu; dịch vụ GD phục vụ xã hội; giữ gìn văn hóa và nghệ thuật; quản lý hành chính; ngân sách; đảm bảo và nâng cao chất lượng. Hệ thống đảm bảo chất lượng ở các trường ĐH của Thái Lan dựa trên nguyên tắc là một mô hình “Đầu vào-Quá trình-Đầu ra” và đều phải tập trung vào việc dạy và học. Điểm chủ yếu trong hệ thống ĐBCL ở đây là các trường phải thành lập, có dẫn chứng bằng tài liệu, thực hiện, duy trì và liên tục cải tiến hệ thống của mình.
Hệ thống ĐBCL gồm: Đánh giá trong (do các trường ĐH 16 chịu trách nhiệm) 2 năm đánh giá một lần và đánh giá ngoài (do ONESQA thực hiện năm năm một lần, nếu đạt sẽ được cấp giấy chứng nhận).Trường Đại học Chulalongkorn (lớn nhất Thái Lan, xếp hạng 78 của hệ thống các trường đại học trên thế giới), hệ thống ĐBCL có ý tưởng từ năm 1996, việc tự đánh giá được thông qua các cuộc thăm viếng của các chuyên gia trên cơ sở ba kiểu hoạt động căn bản ( được coi là cơ sở cho hệ thống đảm bảo chất lượng của trường): Kiểm soát, hỗ trợ và thanh tra chất lượng giáo dục. Tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng của trường cơ bản là: “Giảng dạy-học tập, nghiên cứu, điều hành và hỗ trợ, các dịch vụ học thuật”. Điều này thể hiện quan điểm của trường trong việc đảm bảo chất lượng ở cấp trường, khoa và bộ môn ở cả ba giai đoạn: đầu vào, quá trình, đầu ra. Trong tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng giảng dạy-học tập thì phải hình thành các hoạt động dạy-học, bao gồm: chương trình đào tạo, đội ngũ, quá trình giảng dạy-học tập, sinhviên, các yếu tố hỗ trợ cần thiết cho các hoạt động GD nhằm tạo những sinh viên tốt nghiệp có chất lượng cao.2 Nghiên cứu trong nước về ĐBCL trong giáo dục ĐH Một số nghiên cứu trong nước gần đây về công tác đảm bảo chất lượng trong giáo dục được thể hiện qua một số bài viết của các tác giả sau: Các nghiên cứu về kiểm định chất lượng giáo dục đại học ở nước ta được tiếp cận theo các hướng khác nhau.TS Nguyễn Đức Chính trong tác phẩm “Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học”, NXB.
Đại học Quốc gia Hà Nội (2002) khẳng định: “ĐBCL là quá trình xảy ra trước và trong khi thực hiện. Trong quá trình này thì mối quan tâm của ĐBCL là phòng chống những sai phạm có thể xảy ra ngay từ bước đầu tiên. Chất lượng của sản phẩm được thiết kế ngay trong quá trình sản xuất ra nó từ khâu đầu đến khâu cuối theo những tiêu chuẩn nghiêm ngặt đảm bảo không có sai phạm trong bất kỳ khâu nào và phần lớn trách nhiệm thuộc về người lao động”. Nguyễn Đức Nghĩa (2006) với Đề án “Thí điểm đánh giá chất lượng giảng dạy bậc đại học tại ĐHQG-HCM” [46] đã nhận định, sự tồn tại của một cơ chế ĐBCL bên trong là yêu cầu cơ bản nhất của tất cả các trường ĐH thành viên AUN, song do tư duy quản lý hiện nay vẫn nặng về quản lý hành chính theo quy định hoặc tiền lệ sẵn có, thiếu một cơ chế phản hồi cho toàn bộ hệ 17 thống (từ mục tiêu, chương trình đến sự hài lòng của SV và sự thừa nhận giá trị từ các nhà tuyển dụng), đồng thời nền văn hóa bằng chứng vẫn chưa thực sự tồn tại trong các đơn vị.
Tác giả nhận định, cơ chế ĐBCL bên trong của các trường chỉ có thể hoạt động tốt khi được sự hỗ trợ và giám sát bởi một cơ chế ĐBCL bên ngoài, được thể chế hóa qua các quy định và các văn bản hướng dẫn. Tác giả Trần Khánh Đức (2010) với công trình “Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ 21” đã chứng minh, chỉ khi hệ thống ĐBCL bên trong nhà trường được xây dựng thì KĐCL các CSGD hay KĐCL các CTĐT mới được thực hiện một cách hiệu quả. Tác giả nhận định, KĐCL là một khâu trong quá trình quản lý chất lượng và chính KĐCL là phương pháp, là công cụ để đánh giá hệ thống ĐBCL bên trong của tổ chức đó.