Chương 1 Điều 4: Cán bộ, công chức. Nghị định 92/2009 NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh số lượng, chế độ chính sách đối với Cán bộ công chức xã. Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25 tháng 01 năm 2010. Cơ sở thực tiễn 2.
Kinh nghiệm đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ ở Việt Nam Kinh nghiệm xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở ở tỉnh Lạng Sơn Theo lãnh đạo Ban Tổ chức Tỉnh ủy Lạng Sơn, qua việc giám sát về thực hiện công tác cán bộ ở cấp huyện và xã, có một thực tế là: các lãnh đạo đương chức ít quan tâm tạo điều kiện để cán bộ cơ sở bổ sung tiêu chuẩn về quản lý nhà nước và lý luận chính trị. Khi cấp trên phân bổ chỉ tiêu đào tạo, bồi dưỡng thì cử cán bộ trong quy hoạch nguồn đi học, còn cán bộ đang đương chức thì không được cử với lý do “cử đi học thì ở nhà không có người làm việc”. Chính quan niệm sai này khiến một tỷ lệ không nhỏ cán bộ cơ sở đương chức lâm vào cảnh “nợ” chuẩn. Bởi vậy, sau rà soát, các huyện trong tỉnh đang thực hiện theo hướng ưu tiên cử cán bộ đương chức đi đào tạo, bồi dưỡng trước.
Đến nay, hầu hết số cán bộ đương chức ở cơ sở “nợ” chuẩn đều đang theo học các lớp tại chức về quản lý nhà nước và lý luận chính trị (mở tại huyện). “Với cách làm huyện bỏ ra một nửa kinh phí để mở lớp tại chỗ, còn các học viên tự túc kinh phí, tỉnh hỗ trợ thủ tục mở lớp ngoài kế hoạch, chúng tôi dự kiến sẽ “thanh toán nợ” xong trong thời gian ngắn tới đây” - đồng chí Lương Đình Ước, Trưởng phòng Tổ chức cán bộ, Ban Tổ chức Tỉnh ủy Lạng Sơn, khẳng định. Để bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức đối với nhiệm vụ và việc tự học, Tỉnh ủy Lạng Sơn đã ban hành Kế hoạch 05-KH/TU (ngày 2-3-2016) về việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2016 - 2020. Tiếp đó, tháng 11-2016, Tỉnh ủy Lạng Sơn có Đề án “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trẻ tuổi, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số đến năm 2020 và những năm tiếp theo”.
Các kế hoạch c 15 và đề án nêu trên đều nhằm mục tiêu là tập trung nguồn lực xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đạt chuẩn. Phấn đấu đến năm 2020 có 100% cán bộ chủ chốt cấp xã đạt trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên (trong đó có hơn 30% đạt trình độ cao đẳng, đại học), lý luận chính trị từ trung cấp trở lên; 85% cán bộ cấp xã đạt chuẩn theo quy định; ở cấp xã có tỷ lệ cán bộ trẻ (dưới 35 tuổi) tham gia cấp ủy đạt từ 25% trở lên; tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy đạt từ 25% trở lên; tỷ lệ nữ tham gia các chức danh chủ chốt cấp xã đạt từ 15% trở lên. Đây là những động lực mới để công tác xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở ở Lạng Sơn được thực hiện quyết liệt hơn trong giai đoạn hiện nay.[11] Kinh nghiệm đào tạo đội ngũ cán bộ cơ sở ở Hà Giang Để từng bước nâng cao trình độ chuyên môn, lý luận chính trị cho cán bộ xã, phường, thị trấn; trong những năm qua, Ban Tổ chức cấp ủy các cấp đã kịp thời tham mưu, bổ sung quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý trong đó có cán bộ cấp xã theo đúng quy định. Riêng trong 6 tháng đầu năm 2016, tỉnh đã bồi dưỡng cán bộ cấp xã về nghiệp vụ Tư pháp cho 201 người, về quản lý Nhà nước chương trình chuyên viên cho 110 người.
Cán bộ được lựa chọn đi đào tạo, bồi dưỡng đều đảm bảo tiêu chuẩn theo quy định; những cán bộ được cử đi đào tạo, bồi dưỡng khi trở về địa phương tiếp tục công tác đều phát huy được trình độ, năng lực công tác, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được giao. Tỉnh cũng rất quan tâm đến việc thực hiện các chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ, công chức của tỉnh nói chung; cán bộ, công chức cấp xã nói riêng. Cụ thể như xem xét nâng lương thường xuyên, nâng bậc lương trước thời hạn cho cán bộ có thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ và nâng phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên nghề, chuyển xếp lương đối với cán bộ chuyên ngành, điều chỉnh phụ cấp chức vụ. Công tác thi đua, khen thưởng được thực hiện tốt, kịp thời động viên, khích lệ các tập thể, cá nhân có thành tích xuất c 16 sắc, tạo động lực cho các tổ chức, cá nhân, đảng viên phát huy nội lực, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị.
Cùng với đó, việc kiểm tra, giám sát hoạt động của các xã được thực hiện thường xuyên, đặc biệt Tỉnh ủy đã ban hành Quyết định giám sát vượt cấp, cấp tỉnh trực tiếp đến kiểm tra, giám sát tại các xã. Đồng thời phân công các đồng chí Ủy viên Ban thường vụ Tỉnh ủy theo dõi, giám sát thường xuyên đối với Đảng ủy các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh. Bài học kinh nghiệm từ các địa phương Ngày nay trước sự phát triển mạnh mẽ của các ngành khoa học kỹ thuật đòi hỏi mỗi một đất nước, mỗi quốc gia trên thế giới phải nắm bát nhanh chóng những thành tựu khoa học kỹ thuật đưa vào áp dụng trong sản xuất nông nghiệp, nâng cao năng suất lao động giúp cho đời sống xã hội được nâng cao cả về vật chất lẫn tinh thần. Mặt khác trước nền kinh tế thị trường đầy biến động nó làm cho tốc độ phát triển giữa thành thị và nông thôn ngày càng cách xa nhau, chính vì vậy đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp sống ở vùng nông thôn đóng một vai trò như một cầu nối cho việc chuyển giao những thành tựu khoa học kỹ thuật áp dụng vào vùng nông thôn, tạo điều kiện cho những vùng này phát triển, nâng cao đời sống vật chất tinh thần, giảm bớt khoảng cách giầu nghèo giữa các vùng nông thôn, nâng cao đời sống văn hóa xã hội, ổn định chính trị góp phần phát triển kinh tế đất nước, giữ vững độc lập chủ quyền dân tộc.
Vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn đặt trong mối quan hệ tương tác với phát triển công nghiệp và đô thị từ lâu đã được Đảng và Nhà nước quan tâm đặc biệt, nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã chỉ rõ: + Phát triển toàn diện Nông - Lâm - Ngư nghiệp hình thành các vùng tập trung chuyên canh , cơ cấu hợp lý về cây trồng, vật nuôi, có sản phẩm hàng hóa nhiều về số lượng, tốt về chất lượng, đảm bảo về lương thực cho xã c 17 hội, đáp ứng yêu cầu của công nghiệp chế biến, của thị trương trong nước và ngoài nước; + Thực hiện thủy lợi hóa, điện khí hóa, cơ khí hóa, sinh học hóa; + Phát triển công nghiệp hóa chế biến Nông - Lâm - Ngư nghiệp gắn liền với công nghệ ngày càng cao; + Chú ý tập trung tạo điều kiện để các ngành nghề, làng nghề truyền thống và các ngành nghề mới bao gồm: tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, công nghiệp khai thác và chế biến nguồn nguyên liệu phi nông nghiệp, các loại hình dịch vụ sản xuất và đời sống nhân dân; + Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, từng bước hình thành nông thôn văn minh hiện đại. Từ quan điểm trên ta thấy Đảng và Nhà nước ta đặc biệt coi trọng phát triển kinh tế xã hội nông thôn, phát triển toàn diện Nông - Lâm - Ngư nghiệp, phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Báo cáo chính trị tại đại hội IX của Đảng phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa xây dựng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Đảng ta chỉ rõ “đường lối kinh tế của Đảng là: đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp”. Quy hoạch về đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ KHKT đóng vai trò là yếu tố hàng đầu trong công việc phát triển kinh tế, muốn phát triển được trước hết phải sắp xếp con người sao cho hợp lý từ công việc đơn giản đến công việc phức tạp tạo nên cân đối giữa cơ cấu ngành và cơ cấu nghề trong một tổ chức.
Một tổ chức muốn phát triển được trước hết phải có một cơ cấu hợp lý sao cho không lãng phí nguồn nhân lực và phân bổ đúng người, đúng việc nhằm khai thác hết tiềm năng sẵn có của tổ chức hay một quốc gia phải tận dụng triệt để những lợi thế. Muốn làm được điều đó trước tiên mỗi đất nước, mỗi quốc gia c 18 hay mỗi tổ chức phải quy hoạch đội ngũ cán bộ KHKT sao cho hợp lý phù hợp với công việc. Phải biết khâu nào, ngành nào là cần thiết, cần phải bổ sung hay thay thế chuyển đổi, từ đó mới có chương trình chuyển cụ thể để đưa cán bộ KHKT mới. Từ đó đưa KHKT vào áp dụng trong tổ chức của mình để phát huy hết tiềm năng sẵn có.
Tạo tiền đề để cho mỗi một tổ chức hay một quốc gia phát triển ổn định, phồn vinh và hạnh phúc. Một số kinh nghiệm cho công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức hành chính ở nước ta như sau: Một là, nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, công chức, trước hết là đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp, các ngành về vai trò, tác dụng của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức để có những nỗ lực cần thiết và biện pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác này. Trước hết cần tập trung nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cơ quan, đơn vị, vì họ là người đề ra chủ trương, chính sách về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, đồng thời là người trực tiếp quản lý, sử dụng cán bộ, công chức. Khi nhận thức được điều này, họ không chỉ tích cực học tập, trau dồi năng lực quản lý, điều hành cho bản thân mình để hoàn thành tốt nhiệm vụ, mà quan trọng hơn là tạo ra cơ chế, chính sách thông thoáng và điều kiện thuận lợi để công chức tham gia tích cực vào các chương trình đào tạo, bồi dưỡng.