Chương 1 giới thiệu bối cảnh nghiên cứu và vấn đề nghiên cứu. Nội dung chính là nêu lên vấn đề chính sách từ đó đưa ra câu hỏi nghiên cứu. Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết và thiết kế nghiên cứu. Chương này tập trung trình bày về cơ sở lý thuyết đồng thời xây dựng thiết kế nghiên cứu hướng đến mục tiêu nghiên cứu.
Chương 3 là chương chính của luận văn, trình bày kết quả phân tích về vai trò của tác nhân trung gian trên thị trường lúa gạo tỉnh Tiền Giang. Cuối cùng là Chương 4 trình bày kết luận và khuyến nghị chính sách, hạn chế của đề tài. CƠ SỞ LÝ THUYẾT, THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 2. Giao dịch Theo John R.
Commons (1931) giao dịch đơn giản là việc chuyển giao, cụ thể là chuyển giao quyền sở hữu đối với một sản phẩm hay dịch vụ. Oliver E Williamson (1981), cho rằng giao dịch là sự trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ thông qua tiền tệ. Định nghĩa hẹp hơn, giao dịch là hoạt động mua hoặc bán nguồn lợi của con người. Tổng quát hơn, giao dịch là hoạt động giữa doanh nghiệp với cá nhân, giữa doanh nghiệp với nhau, giữa cá nhân với cá nhân.
Như vậy, giao dịch trên thị trường lúa, gạo giữa các đối tượng tham gia thị trường như công ty lương thực, tác nhân trung gian, hộ trồng lúa, được hiểu là thỏa thuận trao đổi lúa, gạo, dịch vụ phục vụ sản xuất chế biến gạo thông qua tiền tệ, trong đó, bao gồm cả dịch vụ vận chuyển, sấy lúa, xay lúa, xát gạo. Chi phí giao dịch Khái niệm về chi phí giao dịch không được nhất quán, tùy theo lĩnh vực giao dịch mà phát sinh chi phí giao dịch tương ứng. Tuy nhiên, tựu trung lại, các nghiên cứu cho rằng chi phí giao dịch bao gồm chi phí phát sinh trước, trong và sau quá trình giao dịch bên cạnh chi phí giao dịch do bất cân xứng thông tin, chi phí đầu tư tăng thêm, hay chi phí cơ hội. Các chi phí phát sinh trước, trong và sau quá trình giao dịch Coase R.
(1937) cho rằng chi phí giao dịch chính là chi phí của việc sử dụng cơ chế giá, trong đó bao gồm các chi phí so sánh mức giá và đàm phán cũng như thực hiện hợp đồng. Tổng quan hơn, theo Oliver E.Williamson (1985) chi phí giao dịch có hai phần, chi phí phát sinh trước và sau giao dịch. Trong đó, chi phí phát sinh trước khi giao dịch là chi phí soạn thảo, thương lượng và bảo vệ hợp đồng - đề ra các phương án nhằm bảo vệ hợp đồng trước những tình huống xấu. Chi phí phát sinh sau khi giao dịch là chi phí thành lập và điều hành, chi phí thực hiện cam kết và chi phí về những rủi ro có thể phát sinh.
Tương đồng với quan điểm này, Hennart (1993) cũng cho rằng chi phí giao dịch bao gồm chi phí tìm kiếm và ký kết hợp đồng bao gồm chi phí định vị đối tác mong muốn, đàm phán, chi phí chấp nhận giám sát thực thi, chi phí tham khảo các giám sát thỏa thuận khác, chi phí 7 thực hiện các hành động cần thiết để đảm bảo các bên thực hiện hợp đồng.O Matthews (1986) chỉ ra chi phí giao dịch trên quan điểm hợp đồng là các chi phí của việc thu xếp một hợp đồng trước khi ký kết, giám sát, thực thi sau khi được ký kết. Chi phí giao dịch phát sinh do bất cân xứng thông tin Theo Williamson (1997) do các bên không thể dự đoán tất cả các trường hợp có thể xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng, do đó, họ phải bỏ ra chi phí để giám sát trong trường hợp thông tin bất cân xứng. Wallis và North (1986), Davis (1986) cũng cho rằng chi phí giao dịch bao gồm chi phí của quá trình tìm kiếm và truyền đạt thông tin, chi phí giám sát hành vi, chi phí điều phối, thu mua, tiếp thị, quảng cáo, bán hàng, xử lý các vấn đề pháp lý, vận chuyển, quản lý và giám sát. Chi phí giao dịch phát sinh do đầu tư tăng thêm Chi phí giao dịch còn bao gồm chi phí đầu tư và những chi phí sản xuất được tăng thêm (Klein và Leffler,1981).
Dyer (1997) cho rằng tổng số lao động phục vụ khâu bán hàng, sản xuất (quản lý, đại lý, người mua, luật sư, hỗ trợ cung ứng) tất cả được chia trên tổng giá trị hàng hóa được mua, bán; nghĩa là chi phí trên mỗi sản phẩm hàng hóa mà các nhân viên đã bán. Chi phí cơ hội Theo Noel Amenc (2008) chi phí cơ hội xảy ra khi có sự chậm trễ ngoài ý muốn như chậm trễ về truyền tải thông tin giữa người mua và người bán, chi phí vận hành, chi phí thời gian thị trường, chi phí thương mại nhỡ, chi phí điều chỉnh hợp đồng. Ngoài ra, North (1990) cho rằng chi phí giao dịch còn bao gồm chi phí đảm bảo thuộc tính của sản phẩm dịch vụ trao đổi. Từ những khái niệm nêu trên về chi phí giao dịch, trong khuôn khổ bài viết này định nghĩa chi phí giao dịch trong thị trường lúa, gạo được hiểu như sau: chi phí phát sinh trong quá trình giao dịch (chi phí soạn thảo, thương lượng, bảo vệ hợp đồng, chi phí thương lượng, chi phí điều hành quản lý, thực hiện hợp đồng, chi phí thực hiện cam kết và chi phí về những rủi ro có thể phát sinh, chi phí pháp lý, chi phí hủy hợp đồng, chi phí vận chuyển (chi phí đầu tư hoặc thuê)), chi phí để giám sát trong trường hợp thông tin bất cân xứng, chi phí bảo vệ thuộc tính của lúa, gạo (chi phí kho bãi, chi phí bảo quản lúa, gạo, chi phí 8 sấy lúa), chi phí đầu tư tăng thêm (chi phí xay xát, lau bóng gạo, chi phí thuê mướn lao động tăng thêm), chi phí cơ hội (chi phí hao hụt trong quá trình thực hiện, trì hoãn giao dịch, chi phí thời gian do trì hoãn giao dịch).
Các tác nhân trong thị trường lúa gạo Thương lái, nhà máy chế biến gạo là tác nhân trung gian trên thị trường lúa gạo, công ty lương thực là tác nhân cuối cùng trong chuỗi giá trị lúa, gạo xuất khẩu (Võ Thị Thanh Lộc, 2011) (Phụ lục 2. Riêng đối với các hợp tác xã, tổ hợp tác sản xuất lúa, gạo không phải là tác nhân trung gian mà được xem là các tổ chức đại diện nông dân. Thương lái lúa Thương lái được xuất phát từ từ “lái”, là người buôn bán hàng hóa. Thương lái là người thu gom lúa trực tiếp từ nông dân (Bùi Khánh Vân, 2011), cũng là trung gian trong thị trường lúa, gạo (Võ Thị Thanh Lộc, 2011).
Thương lái không sở hữu thiết bị xay xát, lau bóng và hoạt động với tư cách cá nhân, quy mô nhỏ. Nhà máy chế biến Nhà máy chế biến là đối tác cung cấp gạo cho công ty lương thực và tiêu thụ lúa của nông dân (Võ Thị Thanh Lộc, 2011). Nhà máy chế biến đóng vai trò quan trọng trong việc sản xuất gạo (Nguyễn Công Thành, 2011). Không như thương lái, nhà máy chế biến hoạt động dưới dạng tổ chức, có đăng ký kinh doanh và có đầu tư thiết bị chế biến gạo.
Công ty lương thực Công ty lương thực thực hiện khâu cuối cùng trên thị trường lúa, gạo xuất khẩu. Công ty lương thực vừa mua gạo từ các thương lái, nhà máy vừa thu mua lúa trực tiếp từ nông dân. Công ty lương thực khác với các nhà máy ở khâu tổ chức sản xuất và quy mô. Các nhà máy chế biến trên địa tỉnh Tiền Giang có công suất trung bình từ 2 đến 5 tấn/giờ, trong khi đó công suất xay trung bình của công ty lương thực lên đến 10 tấn lúa/giờ, công suất lau bóng trung bình từ 20 đến 30 tấn/giờ (Sở Công Thương Tiền Giang, 2011).
Cơ sở lý thuyết Đề tài sử dụng lý thuyết về chi phí giao dịch, trong đó, vận dụng lý thuyết về Bản chất của Hãng của Ronald H. Coase (1937) và cơ chế quản trị của Oliver E. Coase (1937) có hai nguyên nhân chính cho sự ra đời của Hãng. Thứ nhất, chi phí tổ chức cho những giao dịch tăng thêm có thể tăng.
Ở một mức độ nào đó, chi phí tổ chức thêm một giao dịch bằng với chi phí thực hiện giao dịch đó ở thị trường mở hay do Hãng khác thực hiện. Thứ hai, khi tăng thêm giao dịch, các Hãng không thể sử dụng các nhân tố sản xuất đạt hiệu quả tối đa. Tóm lại, các Hãng lớn sẽ đạt đến mốc mà tại đó nhân tố sản xuất không khai thác tốt nhất. Cũng theo Ronald H.
Coase (1937) việc mở rộng giao dịch theo không gian sẽ làm cho chi phí giao dịch tăng. Lý thuyết này được áp dụng để nhận định về vai trò của các tác nhân trung gian trong thị trường lúa, gạo.Williamson (1985) cho rằng tồn tại các cấu trúc quản trị phù hợp có ý nghĩa trong việc giảm chi phí giao dịch. Cơ chế thị trường hình thành các cấu trúc quản trị khác nhau. Nếu các giao dịch được thực hiện bởi cấu trúc quản trị phù hợp thì chi phí giao dịch sẽ được giảm đến mức thấp nhất.
Lý thuyết này giúp xác định sự hiện diện của các tác nhân trung gian trên thị trường lúa, gạo có phải là cấu trúc quản trị phù hợp hay không thông qua so sánh chi phí giao dịch giữa các cấu trúc quản trị. Tổng quan các nghiên cứu trước và đóng góp của đề tài Các nghiên cứu trước về chi phí giao dịch Zhengchao Lv (2012) chỉ ra những khó khăn trong việc đo lường chi phí giao dịch. Định nghĩa về chi phí giao dịch không được đồng nhất (những chi phí nào được xem là chi phí giao dịch và không xem là chi phí giao dịch) và việc xác định chi phí giao dịch được ẩn sau giá trị phi thị trường. Dyer (1997) phân tích chi phí giao dịch trong ngành công nghiệp ô tô, xem xét chi phí giao dịch ô tô.
Nguyên nhân chi phí giao dịch giữa các hãng xe khác nhau là do có sự khác biệt: (1) trong cam kết với các nhà cung cấp; (2) về quy mô và phạm vi trao đổi giữa các nhà cung cấp và sản xuất ô tô, (3) trong việc chia sẻ thông tin, (4) trong hình thức đảm bảo thực hiện hợp đồng, (5) về việc quyết định đầu tư tài sản phục vụ cho giao dịch. Laura McCann (2004) sử dụng chi phí giao dịch làm khung phân tích cơ chế phân bổ nước với chi phí giao dịch thấp nhất. Những chi phí phát sinh trong việc giám sát và kiểm soát chất lượng nước làm tăng chi phí giao dịch trong quá trình cung cấp nước.