Tổng quan nghiên cứu

Tại tỉnh Lạng Sơn, một địa bàn miền núi phía Đông Bắc Việt Nam với quy mô dân số khoảng 731.887 người, đồng bào các dân tộc thiểu số chiếm tới 83,21% tổng dân số. Thực trạng giáo dục ngoại ngữ tại đây đối mặt với rào cản kép khi học sinh vừa gặp trở ngại trong việc sử dụng tiếng phổ thông, vừa thiếu hụt trầm trọng môi trường rèn luyện giao tiếp tiếng Anh. Phương thức dạy học truyền thống nặng về thuyết giảng ngữ pháp và bài tập viết đã khiến học sinh rơi vào trạng thái thụ động, e ngại giao tiếp, phát âm sai lệch và thiếu hụt độ trôi chảy.

Trước bối cảnh đó, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ Anh (mã số 8220201) của tác giả Lộc Thị Lan dưới sự hướng dẫn của TS. Bùi Thị Hương Giang tại Trường Ngoại ngữ – Đại học Thái Nguyên (2024) đã tập trung giải quyết điểm nghẽn này. Mục tiêu trọng tâm của đề tài là khảo sát mức độ cải thiện kỹ năng nói tiếng Anh thông qua việc vận dụng các kỹ thuật kịch nghệ (drama techniques), tập trung vào hai chỉ số then chốt là độ chuẩn xác phát âm (pronunciation) và độ lưu loát (fluency), đồng thời đo lường thái độ tiếp nhận của người học.

Nghiên cứu được giới hạn phạm vi can thiệp thực nghiệm trên 35 học sinh khối lớp 11 tại một trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn trong chu kỳ 6 tuần của học kỳ 1 năm học 2023–2024. Ý nghĩa học thuật và thực tiễn của công trình được chứng minh thông qua chuyển biến định lượng vượt bậc: xóa bỏ hoàn toàn tỷ lệ 57,14% học sinh yếu kém về ngữ âm ở giai đoạn khảo sát ban đầu, nâng tỷ lệ người học đạt mức trung bình – khá trở lên lên tới 82,9%, khẳng định vai trò chiến lược của hoạt động kịch hóa trong đổi mới phương pháp giảng dạy ngoại ngữ vùng khó khăn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nền tảng lý luận của luận văn được xây dựng trên sự giao thoa giữa lý thuyết năng lực giao tiếp ngôn ngữ và lý thuyết tiếp nhận ngôn ngữ qua nghệ thuật kịch. Theo quan điểm của các nhà ngôn ngữ học như Byrne (1987) và Nunan (1999), kỹ năng nói là một tiến trình tương tác đa chiều nhằm kiến tạo ý nghĩa thông qua việc tiếp nhận, xử lý và tạo lập thông tin. Để đánh giá chuẩn xác năng lực nói, nghiên cứu áp dụng khung phân loại năng lực ngôn ngữ của Harris (1969) với 5 thành tố cốt lõi: ngữ pháp, từ vựng, khả năng thấu hiểu, phát âm và độ lưu loát; trong đó phát âm và độ lưu loát được chọn làm hai biến số định lượng trọng tâm.

Về lý thuyết kịch nghệ giáo dục, tác giả vận dụng các luận điểm nền tảng của Maley & Duff (1978), Holden (1981) và Wessels (1987), xác định kịch là công cụ sư phạm đưa người học vào các tình huống giả định sinh động, kích hoạt trí tưởng tượng và tích hợp toàn diện ngôn ngữ cơ thể, cảm xúc và tư duy logic. Luận văn đối chiếu sâu sắc mô hình đối lập của Stern (1992) giữa phương pháp truyền thống (lấy giáo viên làm trung tâm, chú trọng phân tích cấu trúc ngữ pháp và sửa lỗi triệt để) và phương pháp kịch nghệ (lấy người học làm trung tâm, tối ưu hóa tính trôi chảy, sử dụng ngôn ngữ tự nhiên trong đời thực). Ba khái niệm vận hành chủ đạo được định hình xuyên suốt đề tài bao gồm: kỹ thuật đóng vai theo ngữ cảnh (role-play), sự lưu loát khẩu ngữ (oral fluency) và thái độ tiếp nhận sư phạm (learner attitude).

Phương pháp nghiên cứu

Công trình áp dụng mô hình nghiên cứu hành động trong lớp học (Classroom Action Research) theo khung quy trình 4 giai đoạn tịnh tiến của Kemmis, McTaggart & Retallick (2004), bao gồm: Lập kế hoạch (Planning), Hành động (Action), Quan sát (Observation) và Suy ngẫm/Phản hồi (Reflection). Khách thể nghiên cứu bao gồm 35 học sinh lớp 11 (20 học sinh nam và 15 học sinh nữ) tại một trường trung học phổ thông thuộc tỉnh Lạng Sơn. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện có chủ đích (purposive sampling) trong số các lớp mình trực tiếp giảng dạy nhằm đảm bảo tính liên tục của tương tác sư phạm và kiểm soát sát sao các biến số thực nghiệm.

Tiến trình can thiệp thực tế được triển khai theo lịch trình 6 tuần nghiêm ngặt:

  • Tuần 1: Tiến hành bài kiểm tra trước can thiệp (pre-test) phỏng vấn 1-1 mô phỏng định dạng bài thi nói Cambridge B1 kết hợp ghi âm trực tiếp.
  • Tuần 2: Phân chia 35 học sinh thành 6 nhóm (mỗi nhóm khoảng 5-6 thành viên), giới thiệu dự án kịch mẫu và hướng dẫn xây dựng kịch bản 10 phút gắn với nội dung bài học.
  • Tuần 3: Giáo viên thẩm định, phản hồi chi tiết và hướng dẫn các nhóm hiệu đính kịch bản tiếng Anh.
  • Tuần 4 và Tuần 5: Các nhóm tiến hành tập dượt, biểu diễn sân khấu hóa trước lớp, đồng thời thực hiện ghi hình và đánh giá đồng đẳng.
  • Tuần 6: Tổ chức bài kiểm tra sau can thiệp (post-test) với độ khó tương đương và phát phiếu khảo sát thái độ học tập thích ứng từ bộ công cụ chuẩn hóa của Trần (2020).

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả thông qua phần mềm Microsoft Excel là nhằm tính toán tần suất và tỷ lệ phần trăm của từng mức điểm trên thang Harris từ 1 đến 10 điểm, qua đó lượng hóa trực quan bước nhảy vọt về năng lực giao tiếp của người học trước và sau can thiệp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Dữ liệu thực nghiệm thu thập từ hai đợt kiểm tra đánh giá đã chứng minh sự cải thiện mang tính bước ngoặt ở cả hai tiêu chí phát âm và độ lưu loát của 35 học sinh tham gia nghiên cứu.

Thứ nhất, về năng lực phát âm (pronunciation), kết quả bài kiểm tra tiền can thiệp cho thấy mức độ hạn chế nghiêm trọng: có tới 57,14% học sinh (20 em) rơi vào nhóm điểm 1-2 với các lỗi sai ngữ âm cơ bản và ngữ điệu đơn điệu; 31,4% học sinh (11 em) đạt điểm 3-4; chỉ có 11,4% học sinh (4 em) đạt ngưỡng điểm 5-6 và hoàn toàn không có học sinh nào đạt điểm 7 trở lên. Sau 6 tuần can thiệp kịch nghệ, kết quả bài kiểm tra hậu can thiệp ghi nhận sự biến mất hoàn toàn của nhóm điểm dưới 4 (0%). Tỷ lệ học sinh đạt điểm 5-7 tăng vọt lên mức 82,9% (29 em), và có 11,4% học sinh (4 em) bứt phá lên nhóm điểm giỏi 8-9 điểm.

Thứ hai, về độ lưu loát trong diễn đạt (fluency), sự chuyển biến diễn ra với biên độ rất lớn. Ở bài kiểm tra ban đầu, 68,6% học sinh (24 em) chỉ đạt mức điểm 1-2 do thói quen ngập ngừng kéo dài, ngắt quãng bất thường và thiếu vốn từ kết nối; nhóm điểm 3-4 chiếm 22,9% (8 em) và nhóm điểm 5-6 chỉ chiếm 8,5% (3 em). Đến đợt đánh giá cuối khóa, tỷ lệ học sinh đạt điểm 1-2 đã được kéo giảm triệt để về mức 0%. Thay vào đó, nhóm học sinh đạt mức điểm 5-7 chiếm tỷ trọng áp đảo với 74,3% (26 em), và có tới 17,1% học sinh (6 em) vươn lên dải điểm xuất sắc 8-9 điểm.

Thứ ba, về chỉ số thái độ người học, phiếu khảo sát 10 biến số Likert ghi nhận sự đồng thuận cao. Đáng chú ý, 100% học sinh hoàn toàn đồng ý rằng kỹ thuật kịch giúp nâng cao khả năng giao tiếp xã hội. Đồng thời, 97,1% học sinh xác nhận hoạt động này hỗ trợ đắc lực trong việc làm chủ ngôn ngữ cơ thể và kỹ năng phi ngôn ngữ, trong khi 91,4% khẳng định kỹ thuật kịch tạo ra động lực thực hành khẩu ngữ tích cực hơn hẳn phương pháp học truyền thống.

Thảo luận kết quả

Sự tiến bộ vượt bậc về phát âm và độ lưu loát có thể giải thích qua cơ chế tâm lý ngôn ngữ học: kỹ thuật kịch đã tạo ra "chiếc mặt nạ bảo vệ" giúp học sinh vùng cao giải tỏa triệt để áp lực tâm lý sợ mắc lỗi trước đám đông. Khi hóa thân vào nhân vật kịch bản 10 phút, người học chuyển dịch tâm thế từ việc học thuộc lòng thụ động sang quá trình đàm phán ý nghĩa chủ động. Tinh thần làm việc nhóm 5-6 người tạo điều kiện cho học sinh tự sửa lỗi phát âm và nhịp điệu cho nhau trong suốt 2 tuần tập dượt mà không bị ngắt quãng bởi sự can thiệp trực tiếp từ giáo viên.

Phát hiện này có tính tương đồng cao với kết luận của Nguyễn (2023) khi nghiên cứu về hoạt động kịch nghệ trên học sinh lớp 11 tại Việt Nam, cũng như nghiên cứu của Nhi & Huấn (2017) tại Đại học An Giang về tính ưu việt của kỹ thuật đóng vai trong việc nâng cao sự tự tin tương tác. Kết quả cũng củng cố vững chắc lý thuyết của Chukueggu (2012) về vai trò của hoạt động kịch trong việc rèn luyện các đặc tính siêu phân đoạn như trọng âm, ngữ điệu và giai điệu ngôn ngữ tự nhiên.

Về phương diện trực quan hóa dữ liệu học thuật, sự dịch chuyển phân phối điểm số có thể được minh họa tối ưu qua biểu đồ cột ghép (Clustered Column Chart). Khi đặt các cột tỷ lệ phần trăm của bài kiểm tra trước can thiệp cạnh bài kiểm tra sau can thiệp theo 4 dải điểm (1-2, 3-4, 5-7, 8-9), người đọc sẽ quan sát thấy đường cong phân phối điểm lệch trái điển hình ở giai đoạn xuất phát chuyển dịch hoàn toàn thành phân phối chuẩn lệch phải ở giai đoạn kết thúc. Bên cạnh đó, kết quả thái độ người học được trình bày lý tưởng nhất qua biểu đồ thanh ngang xếp chồng tỷ lệ 100% (100% Stacked Bar Chart), làm nổi bật dải màu đồng thuận áp đảo trên 90% ở các hạng mục phát triển phản xạ tự nhiên và giao tiếp phi ngôn ngữ.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các phát hiện thực nghiệm, luận văn đưa ra 4 nhóm khuyến nghị hành động cụ thể nhằm nhân rộng mô hình:

  • Đối với giáo viên bộ môn tiếng Anh tại các trường THPT: Chủ động tái cấu trúc kế hoạch bài dạy, tích hợp kỹ thuật đóng vai phân cảnh ngắn (micro-role-play) với thời lượng từ 10 đến 15 phút vào ít nhất 2 tiết luyện nói mỗi tuần. Thiết lập mục tiêu cụ thể nhằm giúp tối thiểu 80% học sinh duy trì mạch nói liên tục không ngắt quãng quá 5 giây trong học kỳ 1 năm học 2024–2025.

  • Đối với tổ chuyên môn Ngoại ngữ: Xây dựng ngân hàng học liệu kịch bản chuẩn hóa gồm 10 đến 12 kịch bản phân vai tích hợp văn hóa bản địa và các tình huống giao tiếp thực tế thuộc chương trình tiếng Anh lớp 11 mới. Hoàn thành công tác thẩm định nội bộ và đưa vào sử dụng trong quý 1 của năm học tiếp theo.

  • Đối với Ban Giám hiệu các trường THPT khu vực miền núi: Ưu tiên bố trí kinh phí đầu tư tối thiểu 1 phòng thực hành ngoại ngữ đa năng có trang bị máy thu âm và máy chiếu phục vụ hoạt động kịch nghệ; đồng thời phát động ngày hội sân khấu hóa tiếng Anh định kỳ mỗi học kỳ một lần, thu hút ít nhất 85% học sinh toàn trường tham gia trải nghiệm.

  • Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo địa phương: Cải tiến cấu trúc bài kiểm tra định kỳ bằng cách quy định phần kiểm tra kỹ năng nói trực tiếp hoặc thông qua video dự án kịch chiếm tỷ trọng từ 20% đến 30% tổng điểm số môn học; tổ chức tập huấn chuyên đề về kịch nghệ ứng dụng cho 100% giáo viên ngoại ngữ cốt cán trong lộ trình 12 tháng tới.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho 4 nhóm đối tượng chuyên môn sau:

  • Giáo viên tiếng Anh công tác tại các trường phổ thông vùng dân tộc thiểu số và miền núi: Khai thác trực tiếp quy trình 10 bước tổ chức kịch bản mẫu và kỹ thuật phản hồi tích cực để giải quyết bài toán học sinh sợ nói, ngại phát âm trong các lớp học có sĩ số trên 30 học sinh.

  • Học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học tiếng Anh (TESOL/Applied Linguistics): Kế thừa mô hình nghiên cứu hành động chuẩn hóa 4 bước của Kemmis kết hợp thang đánh giá 5 mức của Harris làm cơ sở thiết kế các công trình nghiên cứu can thiệp thực nghiệm sư phạm.

  • Cán bộ quản lý giáo dục và chuyên viên phụ trách môn Ngoại ngữ tại các Phòng, Sở Giáo dục và Đào tạo: Tham khảo dữ liệu thực chứng với mức tăng trưởng độ lưu loát 74,3% để làm căn cứ chỉ đạo chuyên môn, xây dựng hướng dẫn đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá kỹ năng nói thực chất tại địa phương.

  • Tác giả biên soạn chương trình và tài liệu bổ trợ kỹ năng giao tiếp: Ứng dụng khung kịch bản phân vai 5 nhân vật và chuỗi hoạt động kịch nghệ để phát triển các hợp phần thực hành hội thoại mang tính tương tác cao trong sách bài tập bổ trợ.

Câu hỏi thường gặp

  • Việc triển khai kỹ thuật kịch có làm quá tải quỹ thời gian của tiết học 45 phút không? Quy trình 10 bước trong nghiên cứu được phân bổ khoa học, trong đó khâu viết và duyệt kịch bản diễn ra ngoài giờ lên lớp. Trong tiết học chính khóa, mỗi nhóm chỉ trình diễn từ 7 đến 10 phút và nhận phản hồi 5 phút, hoàn toàn ăn khớp với khung thời lượng quy định của chương trình.

  • Làm thế nào để khuyến khích những học sinh dân tộc thiểu số nhút nhát tham gia diễn xuất? Nghiên cứu cho phép học sinh tự lập nhóm 5 người cùng trình độ để giảm áp lực đồng đẳng. Giai đoạn đầu, giáo viên cho phép dùng câu thoại ngắn, hỗ trợ từ vựng cơ bản và khuyến khích sử dụng điệu bộ cử chỉ trước khi yêu cầu độ chuẩn xác cao về ngôn từ.

  • Thang đo nào được sử dụng để đảm bảo độ tin cậy khi chấm điểm phát âm và độ lưu loát? Tác giả áp dụng bảng tiêu chí đánh giá năng lực nói chuẩn hóa của Harris (1969) với 5 bậc miêu tả hành vi chi tiết. Quá trình chấm điểm được thực hiện độc lập bởi 2 giám khảo chuyên môn dựa trên các bản ghi âm kiểm tra định dạng Cambridge B1 để triệt tiêu định kiến chủ quan.

  • Triển khai kỹ thuật kịch có đòi hỏi chi phí tốn kém về trang phục và sân khấu không? Nghiên cứu nhấn mạnh vào bản chất của kịch nghệ giáo dục (educational drama) thay vì kịch biểu diễn chuyên nghiệp. Học sinh chỉ cần tận dụng không gian lớp học hiện có và các đồ dùng học tập sẵn có để làm đạo cụ, tập trung hoàn toàn vào biểu cảm và lời thoại giao tiếp.

  • Mô hình nghiên cứu hành động này có thể mở rộng sang các kỹ năng ngôn ngữ khác không? Mô hình can thiệp 6 tuần này có tính tương thích cao để mở rộng rèn luyện kỹ năng nghe hiểu hội thoại và kỹ năng viết kịch bản sáng tạo. Các cơ sở giáo dục có điều kiện tương đồng hoàn toàn có thể nhân rộng cho 100% học sinh các khối lớp 10 và 12.

Kết luận

  • Luận văn khẳng định kỹ thuật kịch đã xóa bỏ hoàn toàn tỷ lệ 57,14% học sinh yếu kém về phát âm và 68,6% về độ ngập ngừng, đưa hơn 74% học sinh vươn lên mức điểm trung bình – khá và giỏi.
  • Mô hình đóng vai theo nhóm 5 người đã giải tỏa triệt để rào cản tâm lý e ngại, kiến tạo môi trường giao tiếp thực chất cho 35 học sinh trung học phổ thông miền núi.
  • 100% học sinh tham gia nghiên cứu bày tỏ thái độ tán thành tuyệt đối về hiệu quả nâng cao năng lực giao tiếp và làm chủ ngôn ngữ cơ thể thông qua kịch nghệ.
  • Đóng góp khoa học cốt lõi của đề tài là xây dựng hoàn chỉnh quy trình can thiệp sư phạm 10 bước có tính ứng dụng cao, cung cấp dữ liệu thực chứng cho giáo dục ngoại ngữ tại vùng khó khăn.
  • Lộ trình tiếp theo cần hướng tới mở rộng chu kỳ can thiệp lên 12 đến 16 tuần, đồng thời tích hợp tiêu chí đánh giá kịch nghệ vào hệ thống kiểm tra định kỳ của nhà trường.

Công trình nghiên cứu của tác giả Lộc Thị Lan (2024) là minh chứng thuyết phục cho thấy đổi mới phương pháp dạy học bằng kịch nghệ là chìa khóa khai mở tiềm năng giao tiếp tiếng Anh cho học sinh phổ thông. Các nhà trường và quý thầy cô giáo hãy mạnh dạn áp dụng kỹ thuật kịch vào giảng dạy ngay hôm nay để mang lại luồng sinh khí mới cho các giờ học ngoại ngữ, giúp học sinh tự tin hội nhập và phát triển toàn diện.