Chương 1 TÔNG QUAN 1. Một số vấn đề cơ bản về dat, đất đai, sử dụng đất và quản lý sử dụng dat 1. Đất và đất đai Theo Karl Marx, đất là tư liệu sản xuất cơ bản và quý báu của sản xuất nông nghiệp, điều kiện không thé thiếu được của sự tồn tại và tái sinh của hàng loạt thế hệ người kế tiếp nhau (Nguyễn Mười và đồng tác giả, 2000). Theo quan điểm kinh tế học, đất là tài sản quốc gia, là tư liệu sản suất chủ yếu, là đối tượng lao động đồng thời cũng là sản phâm lao động.
Dat là mặt bằng dé phát triển nền kinh tế quốc dân. Từ lâu, con người đã có những nhận thức về đất, tùy theo ngành, lĩnh vực nghiên cứu mà đất được xem với vai trò, đối tượng nghiên cứu khác nhau. Trên phương diện thé nhưỡng, nhà địa chất William (973-1048) cho rằng, dat là tầng mặt tơi xốp của lục địa có khả năng tạo ra sản phẩm cho cây trồng.Dokuchaev (1846-1903), nha khoa học người Nga tiền phong trong lĩnh vực khoa học đất: Đất như là một thực thể tự nhiên có nguồn gốc và lịch sử phát triển riêng, là thực thé với những quá trình phức tạp và da dang diễn ra trong nó. Dat được coi là khác biệt với đá.
Đá trở thành đất dưới ảnh hưởng của một loạt các yếu tố tạo thành đất như sinh vật, khí hậu, đá mẹ, địa hình, thời gian và tác động của con người (Nguyễn Mười và đồng tác giả, 2000). “Đất đai” là thuật ngữ khoa học có thể được hiểu theo nghĩa rộng là một diện tích bề mặt của trái đất có giới hạn, có chiều thắng đứng hướng lên không trung, có chiều sâu hướng xuống lòng đất, có chiều ngang kết nối mọi thành phần liên quan với nhau về các điêu kiện tự nhiên và điêu kiện sông của động thực vật. Theo Luật Đất đai Việt Nam, đất đai là tài nguyên quý giá là tư liệu sản xuất đặc biệt là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh và quốc phòng. Tóm lại, đất đai là một vùng đất được xác định về mặt địa lý, có các thuộc tính tương đối 6n định hoặc thay đổi có tính chất chu kỳ có thé dự đoán được của sinh quyên bên trên, bên trong và bên dưới nó như là: Không khí, đất, điều kiện địa chat, thủy văn, thực vật và động vật cư trú, những hoạt động trước đây của con người, ở chừng mực mà ảnh hưởng của những thuộc tính này có ý nghĩa tới việc sử dụng vùng đất đó của con người hiện tại và trong tương lai.
Sử dụng đất và phân loại sử dụng đất Sử dụng đất (land uses): Đó là hoạt động tác động của con người vào đất đai nhằm đạt kết quả mong muốn trong quá trình sử dụng. Sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ người - đất trong tô hợp với nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi trường. Căn cứ vào quy luật phát triển kinh tế xã hội cùng với yêu cầu không ngừng ổn định và bền vững về mặt sinh thái, quyết định phương hướng chung và mục tiêu sử dụng đất hợp lý nhất là tài nguyên đất đai, phát huy tối đa công dụng của đất nhằm đạt tới hiệu ích sinh thái, kinh tế, xã hội cao nhất. Vì vậy, sử dụng đất thuộc phạm trù hoạt động kinh tế của nhân loại.
Trong mỗi phương thức sản xuất nhất định, việc sử dụng đất theo yêu cầu của sản xuất và đời sống cần căn cứ vào thuộc tính tự nhiên của đất đai. Sử dụng đất là hoạt động tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của con người lên đất đai nhằm phục vụ mục tiêu kinh tế xã hội cho con người. Loại hình sử dụng đất tùy thuộc vao mục đích tác động cụ thể của con người và được quy định cụ thé tại Điều 10 Luật Dat đainăm 2013. Vai trò của đất đai đối với từng ngành rất khác nhau: Ngành phi nông nghiệp: Dat dai giữ vai trò thụ động với chức năng là cơ sở không gian và vị trí dé hoàn thiện quá trình lao động, là kho tang dự trữ trong lòng đất (các ngành khai thác khoáng sản).
Quá trình sản xuất và sản phẩm được tạo ra không phụ thuộc vào đặc điểm, độ phì nhiêu của đất, chất lượng thảm thực vật và các tính chất tự nhiên có sẵn trong đất. Ngành nông — lâm nghiệp: Dat đai là yếu tố tích cực của quá trình sản xuất, là điều kiện vật chất - cơ sở không gian, đồng thời là đối tượng lao động (luôn chỊu sự tác động của quá trình sản xuất như cày, bừa, xới xáo.) và công cụ hay phương tiện lao động (sử dụng đề trồng trọt, chăn nuôi. Quá trình sản xuất nông — lâm nghiệp luôn liên quan chặt chẽ với độ phì nhiêu quá trình sinh học tự nhiên của đất. Việt Nam có diện tích tự nhiên ở quy mô trung bình, xếp thứ 59 trong tổng số 200 quốc gia và vùng lãnh thé nhưng dân số đông (đứng thứ 13) nên bình quân diện tích đất tự nhiên trên đầu người rất thấp (khoảng 0,38ha), chỉ bằng 1/5 mức bình quân của thế giới (1,96ha).
Trước nhiều áp lực, thách thức mục tiêu tổng quát đến năm 2020, Việt Nam có bước chuyên biến cơ bản trong khai thác, sử dung tài nguyên theo hướng hợp lý, hiệu quả và bền vững. Đến năm 2050, Việt Nam trở thành quốc gia khai thác, sử dụng tài nguyên hợp lý, hiệu quả và bền vững. Hệ thống sử dụng đất (Land Use System — LUS): Là sự kết hợp của một loại sử đụng đất với một điều kiện đất đai riêng biệt tạo thành hai hợp phần tác động khăng khít lẫn nhau, từ các tương tác nay sẽ quyết định đặc trưng về mức độ và loại chi phí đầu tư, loại cải tọa đất đai và năng suất, sản lượng của sử dụng đất (Viện Tiêu chuẩn Chất lượng Việt Nam, 2011). Phân loại sử dụng đất Theo Luật Đất đai 2013, đất đai bao gồm 3 nhóm đất chính: Nhóm đất nông nghiệp - Dat trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; - Dat trồng cây lâu năm; - Đất rừng sản xuất; - Đất rừng phòng hộ; - Đất rừng đặc dụng; - Đất nuôi trồng thủy sản; - Đất làm muối; - Đất nông nghiệp khác gồm đất sử dụng dé xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, ké cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuông trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh; Nhóm dat phi nông nghiệp - Đất ở gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị; - Đất xây dựng trụ sở cơ quan; - Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; - Đất xây dựng công trình sự nghiệp gồm đất xây dựng trụ sở của tô chức sự nghiệp; đất xây dựng cơ sở văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục và đào tạo, thé dục thể thao, khoa học và công nghệ, ngoại giao và công trình sự nghiệp khác; - Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp gồm đất khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất; đất thương mại, dịch vụ; đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm; - Đất sử dụng vào mục đích công cộng gồm dat giao thông (gồm cảng hàng không, sân bay, cảng đường thủy nội địa, cảng hàng hải, hệ thống đường sắt, hệ thống đường bộ và công trình giao thông khác); thủy lợi; đất có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; đất sinh hoạt cộng đồng, khu vui chơi, giải trí công cộng; đất công trình năng lượng; đất công trình bưu chính, viễn thông; đất chợ; đất bãi thải, xử lý chất thải và đất công trình công cộng khác; - Đất cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng; - Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng; - Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng; - Dat phi nông nghiệp khác gồm đất làm nhà nghỉ, lan, trại cho người lao động trong cơ sở sản xuất; đất xây dựng kho và nhà dé chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và đất xây dựng công trình khác của người sử dụng đất không nhằm mục đích kinh doanh mà công trình đó không gắn liền với đất ở; Nhóm dat chưa sử dụng Gồm các loại đất chưa xác định mục dich sử dụng.
Quản lý Nhà nước về đất đai Quản lý nhà nước về đất đai là hoạt động tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các hành vi của các chủ thé tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu toàn dân về đất đai nhằm duy trì và phát triển các quan hệ đất đai theo trật tự pháp luật quy định. Như vậy quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của cơ quan Nhà nước về đất đai: Dé là các hoạt động trong việc nam và quản lý tình hình sử dung đất dai; trong việc phân bó đất đai vào các mục đích sử dụng theo chủ trương của Nha nước; trong việc kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng đất (Nguyễn Đắc Nhẫn, 2014). Nguyên tắc quản lý Nhà nước về đất đai Đối tượng của quản lý đất đai là tài nguyên đất đai, cho nên quản lý nhà nước về đất đai phải đảm bảo nguyên tắc sau: - Phải quản lý toàn bộ vốn đất đai hiện có của quốc gia, không được quản lý lẻ tẻ từng vùng. - Nội dung tải liệu quản ly không phụ thuộc vào mục đích sử dụng.
- Số liệu quản lý đất đai phải bao hàm cả sỐ lượng, chất lượng, loại, hạng mục phục vụ cho mục đích sử dụng đất của các loại đó. - Quan lý dat đai phải thé hiện theo hệ thống và phương pháp thống nhất trong toàn quốc. - Những quy định, biểu mẫu phải được thống nhất cả nước, trong ngành địa chính. - Số liệu so sánh không chỉ theo từng đơn vị nhỏ mà phải được thống nhất so sánh cả nước.
- Tài liệu trong quản lý phải đơn giản phô thông trong cả nước. - Những điều kiện riêng biệt của từng địa phương, cơ sở phải phản ánh được.