CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Những vấn đề cơ bản về rủi ro thị trường 1. Khái niệm rủi ro thị trường Trên thực tế có nhiều nghiên cứu khác nhau chỉ ra khái niệm về rủi ro thị trường đối với các doanh nghiệp: Rủi ro thị trường hay rủi ro hệ thống là khả năng một doanh nghiệp cụ thể phải chịu tổn thất do các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường hoặc ngành mà doanh nghiệp đó phụ thuộc. Một số nguyên nhân đã biết của rủi ro thị trường bao gồm suy thoái kinh tế, thay đổi lãi suất và bất ổn chính trị (Julianne Leybag, 2018).
Rủi ro thị trường (hoặc còn gọi là rủi ro marketing, rủi ro giá) là rủi ro liên quan đến biến động giá đầu ra và giá đầu vào của các yếu tố sản xuất (Bùi Thị Gia và Trần Hữu Cường, 2005). Nghiên cứu của Drollette (2009) đã phân loại rủi ro thị trường và chỉ ra rằng biến động về giá cả thường là rủi ro lớn nhất mà nông hộ phải đối mặt. Hai nghiên cứu của Mahul (2003) và Ahsan (2011) chỉ ra rủi ro thị trường là có xu hướng cao khi hoạt động kinh tế hội nhập, ví dụ như xuất - nhập khẩu thủy sản do phụ thuộc nhiều về cung - cầu tiêu dùng của thị trường toàn cầu. Bên cạnh đó, Schalkwyk và Groenewald (2010) chứng minh rủi ro giá cả có thể đo lường bằng nghiên cứu các tác động kết hợp của tỷ lệ giá đầu ra và đầu vào theo thời gian.
Ngoài ra, các nghiên cứu của Knutson và cộng sự (1998), Greiner và cộng sự (2009), Ahsan (2011), Farzaneh và cộng sự (2017) cho thấy thay đổi về giá đầu vào như hạt giống, thức ăn và phân bón cũng dẫn đến rủi ro thị trường cho nông dân. Sự mất ổn định về giá có thể được gây ra trực tiếp hoặc gián tiếp bởi tài nguyên hiện có, loại sản phẩm được sản xuất, loại đầu vào được sử dụng và các yếu tố thúc đẩy hoặc cản trở dòng chảy của đầu vào trong sản xuất. Nhìn chung, rủi ro thị trường là loại rủi ro tác động tới toàn bộ nền kinh tế hoặc phân khúc thị trường chứng khoán. Loại rủi ro này chịu tác động của các điều kiện kinh tế chung như lạm phát, sự thay đổi tỉ giá hối đoái, lãi suất ., đó là các yếu 4 Nguyễn Thị Ngọc Anh Học Viện Ngân Hàng tố nằm ngoài công ty, không thể kiểm soát được nên nó ảnh hưởng đến tất cả các công ty bất kể tình trạng tài chính hoặc quản lý của công ty.
Phân loại rủi ro thị trường Trước khi các nhà quản trị đo lường được rủi ro, họ cần phải nhận diện được tất cả rủi ro mà doanh nghiệp có thể phải đối mặt. Rủi ro thị trường đối với doanh nghiệp có thể bao gồm rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá, rủi ro lạm phát, rủi ro biến động giá cả hàng hóa. Rủi ro tỷ giá là khả năng biến động thu nhập ròng ngoài dự kiến khi tỷ giá ngoại tệ mà doanh nghiệp không thể dự báo trước bị thay đổi tác động đến các khoản phải thu và các khoản phải trả bằng ngoại tệ (Nguyễn Văn Tiến, 2020). Vì những biến động về chính trị và xã hội có thể làm cho tỷ giá hối đoái biến động nhanh chóng, những biến động này có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận của một doanh nghiệp cụ thể.
Trong trường hợp các giao dịch của doanh nghiệp thực hiện trên cơ sở tỷ giá ngoại tệ mà hàng hóa đã được định giá trước, khi tỷ giá có sự biến động có thể tạo ra rủi ro dẫn đến thua lỗ. Tùy theo quy mô sử dụng ngoại tệ, doanh nghiệp có thể chịu số lỗ do rủi ro về tỷ giá nhiều hay ít. Trong hoạt động kinh doanh, hầu như tất cả các doanh nghiệp đều phải sử dụng vốn vay. Khi lập kế hoạch kinh doanh, tuy lãi suất tiền vay đã được lập kế hoạch, song có rất nhiều nhân tố nằm ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp tác động đến lãi suất tiền vay.
Rủi ro lãi suất là rủi ro khi biến động lãi suất trên thị trường thay đổi làm ảnh hưởng tới nguồn vốn vay hoặc các khoản đầu tư vào chứng khoán có thu nhập cố định của doanh nghiệp (Julianne Leybag, 2018). Sự biến động lãi suất có thể do một số yếu tố như chính sách tiền tệ, lạm phát, … Chẳng hạn khi lạm phát xảy ra, lãi suất tiền vay tăng đột biến, những tính toán dự kiến trong kế hoạch kinh doanh ban đầu bị đảo lộn. Tùy thuộc vào lượng tiền vay của doanh nghiệp và sự biến động của lãi suất mà mức độ tiêu cực của rủi ro lãi suất cũng sẽ khác nhau. 5 Nguyễn Thị Ngọc Anh Học Viện Ngân Hàng Theo nghiên cứu của Julianne Leybag (2018) cho rằng rủi ro lãi suất có thể thuộc các loại sau: rủi ro cơ sở, rủi ro định giá, rủi ro đường cong lợi suất, rủi ro quyền chọn.
- Nếu tài sản và nợ phải trả có lãi không có cùng cơ sở thì đây có thể được phân loại là rủi ro cơ sở. Ví dụ: Thay vì sử dụng lãi suất ưu đãi liên ngân hàng Luân Đôn (LIBOR), các ngân hàng sẽ sử dụng lãi suất cơ bản của Hoa Kỳ làm cơ sở cho lãi suất. - Mặt khác, rủi ro định giá lại là rủi ro đến từ việc định giá lại tài sản và nợ phải trả ở các tỷ lệ và thời điểm khác nhau. - Rủi ro đường cong lợi suất là do sự thay đổi của lãi suất dài hạn và ngắn hạn.
- Rủi ro quyền chọn là rủi ro đến từ các tùy chọn trong tài sản và nợ phải trả. Rủi ro giá cả hàng hóa là rủi ro đến từ sự biến động của giá cả hàng hóa tới đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp từ vị trí sản xuất, xuất khẩu, hay toàn bộ chính phủ (Julianne Leybag, 2018). Đối với các doanh nghiệp có giao dịch mua, bán hàng hóa theo hợp đồng duy trì cố định giá trong một thời gian dài, rủi ro biến động giá cả hàng hóa sẽ là một rủi ro lớn hơn so với các loại rủi ro khác. Bên mua sẽ đối diện với rủi ro khi giá hàng hóa cao hơn dự kiến.
Đặc biệt trong trường hợp nền kinh tế có tỷ lệ lạm phát cao, giá cả hàng hóa thay đổi hàng ngày. Khi nói đến lạm phát, toàn bộ thị trường đều bị ảnh hưởng. Bất kỳ tài sản hay thu nhập ròng nào bằng tiền đều tiềm ẩn rủi ro lạm phát vì nó sẽ bị mất giá tương ứng với sự suy giảm sức mua của đồng tiền. Ví dụ, nếu bạn là một người hoàn toàn sợ rủi ro, thay vì đi đầu tư, bạn giấu tiền trong két sắt chôn dưới đất, bạn vẫn phải đối mặt với rủi ro lạm phát, giá trị của những gì bạn mua sẽ đắt lên.
Đối với đa số doanh nghiệp sản xuất, sản phẩm đầu ra thường được ký hợp đồng theo đơn hàng trước khi ẩn xuất, khi giá cả biến động, nguyên vật liệu đầu vào tăng, nhưng giá bán sản phẩm đã cố định từ trước, nguy cơ thua lỗ là rất lớn. Chúng ta không thể chạy trốn loại rủi ro này, tuy nhiên chúng ta có thể thực hiện các biện pháp để giảm ảnh hưởng của rủi ro giá cả hàng hóa. 6 Nguyễn Thị Ngọc Anh Học Viện Ngân Hàng 1. Phương pháp đo lường rủi ro VaR 1.
Giới thiệu phương pháp đo lường Giá trị rủi ro (VaR) Nguồn gốc của khái niệm “Giá trị rủi ro – VaR” không được bắt nguồn từ lĩnh vực ngân hàng hay chứng khoán mà nó bắt nguồn từ lĩnh vực bảo hiểm. VaR bắt nguồn từ hệ thống đánh giá rủi ro theo phương thức giá trị trung bình - phương sai của Markovitz từ những năm 50 của thế kỷ trước. Nhưng VaR có thêm khái niệm rủi ro gắn với độ tin cậy từ nghiên cứu của Roy (1952). Ông là người đưa ra phương pháp lựa chọn danh mục đầu tư tối ưu theo nghĩa tối thiểu xác suất xảy ra tổn thất ở mức lớn hơn mức thảm hoạ có thể.
VaR cũng có sự tương đồng với tiêu chuẩn đo rủi ro dựa trên khái niệm xác suất và độ tin cậy cho phép của Baumol (1963). Vào cuối những năm 1980, thị trường chứng khoán và các ngân hàng thương mại trên thếgiới được mở rộng và phát triển mạnh mẽ. Do tính chất non trẻ cùng với những biến động lớn của thị trường tạo ra nhu cầu cần phải có công cụ kiểm soát rủi ro một cách kịp thời. Từ đó, VaR được du nhập vào thị trường tài chính Mỹ nhờ ngân hàng “Bankers Trust”.
Được xây dựng trên những cơ sở lý thuyết xác suất và thống kê từ nhiều thế kỷ và kế thừa từ những phương pháp đo lường rủi ro trước đó, VaR được phát triển và phổ biến đầu những năm 1990 bởi các nhà khoa học và toán học tài chính làm việc trong JPMorgan Chase. Cũng từ đó, VaR bắt đầu được sử dụng tại nhiều tổ chức khác. Vào cuối những năm 1990, Ủy ban Chứng khoán yêu cầu các công ty phải báo cáo định lượng rủi ro thị trường trong báo cáo tài chính của họ nhằm cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư tài chính, và VaR là công cụ được lựa chọn. Năm 1993, “Nhóm Ba Mươi” – tập hợp những định chế tài chính lớn trên thế giới đã khuyến khích sử dụng VaR nhằm kiểm soát rủi ro của từng thành viên.
Từ năm 1994, với sự ra đời của RiskMetrics, một gói sản phẩm ứng dụng VaR mang thương hiệu của một công ty tách ra từ JPMorgan Chase, VaR đã được áp dụng rộng rãi và trở thành một tiêu chuẩn trong việc đo lường và giám sát rủi ro tài chính, đặc biệt là rủi ro thị trường trên toàn thế giới. Năm 1996, sự phát triển của VaR, cũng như những công dụng của VaR đã chính thức được ghi nhận bằng sự kiện Ủy ban Basel cho phép các ngân hàng tự tính toán các yêu cầu vốn cho mình trên cơ sở sử dụng các mô hình VaR nội bộ. 7 Nguyễn Thị Ngọc Anh Học Viện Ngân Hàng Tháng 06/1995, Cục dự trữ Liên Bang Mỹ, Fed, đã đưa ra đạo luật dùng VaR để tính toán yêu cầu vốn tối thiểu đáp ứng được rủi ro mà các NHTM đang mắc phải, và sẽ áp dụng một khoản phạt nếu các NHTM không đáp ứng được chuẩn vốn này. Tháng 12 năm 1995, Ủy ban Chứng khoán Mỹ và Cục quản lý ngoại hối Mỹ cũng đưa ra đạo luật buộc các công ty chứng khoán, đa quốc gia phải tính rủi ro và yêu cầu vốn tối thiểu dựa trên mô hình VaR.