MỞ ĐẦU 1. - Rau là một loại thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của con người, đặc biệt là với các dân tộc Châu Á và nhất là với người Việt, Nam. Dù ở đâu - trong nước hay ngoài nước - bữa ăn của người Việt Nam luôn có món rau với số lượng nhiều hơn so với các dân tộc khác. - Theo sự phát triển của đời sống xã hội, nhiều nhà dinh dưỡng học của Việt Nam cũng như của thế giới nghiên cứu về khẩu phần thức ăn cho người Việt Nam đã tính rằng hàng ngày chúng cần khoảng I300-1500 calo năng lượng để sống và hoạt động.
Để có được năng lượng này, nhu cầu rau tiêu dùng hàng ngày trung bình cho một người phải vào khoảng 250-300g ( tức là vào khoảng 7,5-9kg/người mỗi tháng). Còn theo nghiên cứu của nhà khoa học Pháp, ông Dorolle từ năm 1942 đã tính là khoảng 360g/ngày (tức là khoảng 10,8 kg/tháng cho mỗi người). Theo các số liệu thống kê thì hiện nay tính bình quân chung cả nước chúng ta mới sản xuất được khoảng 4 - 4,5 kg/người mỗi tháng (không tính phần sản phẩm tự túc trong dân). - Mặt khác, các loại rau, quả được coi là nguồn chủ yếu cung cấp các loại Vitamin vừa nhiều, vừa dễ kiếm lại rẻ tiền.
- Những năm gần đây, vấn đề sản xuất nông nghiệp sạch nói chung, sản xuất và tiêu dùng rau sạch nói riêng đã trở thành vấn để mang tính toàn cầu vì sự lạm dụng quá mức phân bón hoá học, thuốc bảo vệ thực vật đã mang đến một nguy cơ lớn làm nhiễm độc môi trường sản xuất nông nghiệp, nhiễm độc môi trường sống và sức khoẻ cộng đồng. - Có hai loại ô nhiễm chính trên rau ( bao gồm rau xanh, củ, quả) là ô nhiễm hoá học và ô nhiễm sinh học. Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã đưa ra quy định về dư lượng cho phép đối với một số nhóm nông dược và phân bón hoá học trên rau. Ô nhiễm sinh học chỉ sự tồn tại giới hạn cho phép của các vi khuẩn gây bệnh chủ yếu trên rau quả bán ở thị trường.
Nguyên nhân chính của ô nhiễm sinh học là do sử dụng nước tưới bẩn hoặc sử dụng phân bón hữu cơ chưa qua sử lý. - Rau sạch là yêu cầu cấp bách và là sự quan tâm thường nhật của người tiêu dùng vì sự an toàn sức khoẻ của bản thân mình và cộng đồng. Rau sạch là yêu cầu cấp bách và sự quan tâm của người sản xuất, là trách nhiệm trước xã hội, vừa đảm bảo tiêu thụ tốt sản phẩm do mình sản xuất ra tăng sức cạnh tranh trong thị trường, vừa đảm bảo tốt môi trường sản xuất và tính bền vững của sản xuất. ở Việt Nam rau sạch cũng là một vấn để được mọi người và xã hội hết sức quan tâm.
Kết quả điều tra cho thấy, ở nhiều địa phương trong cả nước nhất là các trung tâm sản xuất rau quả, có nhiều sản phẩm rau xanh trên thị trường không đảm bảo tiêu chuẩn an toàn cho người sử dụng. Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, dư lượng NO; và kim loại nặng thường cao hơn giới hạn cho phép có khi tới hàng trăm lần, nhiều trường hợp ngộ độc do ăn rau quả không sạch đã sảy ra ở mọi nơi. Nhiều địa phương trong nước như Hà Nội, TPHCM, Vĩnh phúc, Quảng Nam, Lâm Đồng. đang phát triển mạnh rau sạch an toàn.
Trước yêu cầu cấp bách về sản xuất rau an toàn phục vụ cho nhu cầu xã hội, năm 2003 - 2004 Chi cục Bảo vệ thực vật Sơn La được giao thực hiện đề tài cấp Tỉnh, ”' Tên đề tài: Ứng dụng và xây dựng mô hình trình diễn trồng rau an toàn tại thị xã Sơn La và huyện Mường La - Tỉnh Sơn La". Mục đích nghiên cứu - Xây dựng được mô hình trình diễn sản xuất rau sạch để làm cơ sơ nhân rộng tạo ra nguồn rau an toàn phục vụ nhu cầu xã hội. - Xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất rau an toàn cho các loại rau được trồng chủ yếu tại Sơn La. Nội dung và đối tượng nghiên cứu.
Nội dung nghiên cứu. - Nghiên cứu xây dựng quy trình kỹ thuật về sản xuất rau an toàn cho các loại rau chủ yếu trong Tỉnh, phù hợp điều kiện và trình độ sản xuất của nông dân địa phương. - Nghiên cứu xây dựng mô hình sản xuất rau an toàn trong nhà lưới. - Nghiên cứu hình thức huấn luyện, chuyển giao kỹ thuật sản xuất rau an toàn cho nông dân.
- Nghiên cứu ứng dụng các chế phẩm sinh học bảo vệ thực vật trong sản xuất rau an toàn, thay thế các hoá chất nông nghiệp hiện đại. - Nghiên cứu sản xuất các loại rau, đậu đỗ đạt tiêu chuẩn rau an toàn. - Nghiên cứu xây dựng phương thức tổ chức sản xuất rau toàn. Đối tượng nghiên cứu.
- Các loại rau được trồng chủ yếu gồm: Rau họ hoa thập tự (bắp cải, súp lơ, su hào, cải làn, cải ngồng.), dưa chuột, đậu đỗ, bí, mồng tơi, rau muống, rau gia VỊ. - Các loại chế phẩm sinh học g6m: Vi-BT - 16000 WP, Luc Cương A, Chế phẩm EMVI - 2, Chế phẩm EM Bocachi, để phòng trừ sâu bệnh hại chính như sâu tơ, sâu xanh, bọ nhảy, sâu khoang. PHAN THU HAI CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Rau sạch an toàn.
+ Mot cau hoi dat ra" Rau sạch là gì ? ". Phần lớn các nhà khoa học và các tổ chức quốc tế có liên quan đều thống nhất "Rau sạch là rau được trồng với công nghệ sạch, cho sản phẩm sạch, hoàn toàn không sử dụng hoặc hạn chế sử dụng các hoá chất nông nghiệp, đảm bảo an toàn cho sức khoẻ người tiêu dùng, an toàn cho môi trường sản xuất và môi trường sinh thái góp phần đảm bảo tính bền vững của sản xuất nông nghiệp”. + Rau sạch an toàn và rau sach hữu cơ, Theo ý kiến của nhiều tổ chức Khoa học công nghệ, Tiến sĩ Veenajha UNDP, Tiến sĩ Aleedander Daniel, Tổng thu ky IFOAM - Asian, liên đoàn Quốc tế về nông nghiệp hữu cơ. Thì rau sạch an toàn ( gọi tắt là rau an toàn Safe vegetable, clean vegetable ) là rau được sản xuất với công nghệ vẫn còn sử dụng hoá chất nông nghiệp nhưng hạn chế, hợp lý hơn và sản phẩm đến người tiêu đùng phía đảm bảo 3 chỉ tiêu an toàn ( an toàn về dư lượng NO3, an toàn về dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật và an toàn về dư lượng vi sinh vật gây bệnh cho người ).
/ Còn rau sạch hữu cơ ( gọi tất là rau hữu co organic vegetable, Bio vegetable ) là rau được sản xuất với công nghệ hoàn toàn không sử dụng hoá chất nông nghiệp , trong một môi trường sinh thái rất sạch và an toàn, sản phẩm tuyệt đối an toàn với người tiêu dùng, có chất lượng và giá trị hàng hoá cao. ‘ Hiện nay nhiều nước trên thế giới đặc biệt là các nước đang phát triển như Trung Quốc, ấn độ, Indonesia. đang phát triển mạnh rau sạch an toàn với đầu tư tương đối thấp, công nghệ phù hợp với trình độ nông dân, giá thành xấp xi rau thông thường nên dễ tiêu thụ, sử dụng hoá chất nông nghiệp giảm nên tác động tốt đến môi trường và sức khoẻ. đối với rau sạch hữu cơ đang có xu hướng phát triển trên thế giới đạc biệt là các nước phát triển.
Tại Việt Nam ngày 28/4/1998 Bộ trưởng Bộ NN&PTNT đã ra quyết định số 67-1998/QĐ-BNN-KHCN về việc ban hành "Quy định tạm thời về sản xuất rau an toàn" để thực hiện chung cho cả nước. Theo quy định thì khái quát về rau an toàn là: Những sản phẩm rau tươi (bao gồm tất cả các loại rau ăn củ, thân, lá, hoa, quả) có chất lượng đúng như đặc tính giống của nó, hàm lượng các hoá chất độc và mức độ nhiễm các vi sinh vật gây hại ở mức tiêu chuẩn cho phép, đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng và môi trường, thì được coi là rau đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, gọi tắt là "rau an toàn”, Từ giữa năm 2002, Bộ NN&PTNT, Sở NN &PTNT Hà Nội đã giao Chỉ cục BVTV Hà Nội triển khai thực hiện thí điểm mô hình khép kín sản xuất và tiêu thụ rau an toàn đã đạt được những kết quả tốt, sản xuất được nhiều 3 chủng loại rau: cải bắp, cải ngọt, cải mơ, rau muống, mồng tơi, rau đay, đậu leo, cà chua, dưa chuột, xúp lơ và một số rau gia vị. Lập nhiều cửa hàng giới thiệu sản phẩm và thường xuyên cung cấp cho các cơ quan đơn vị đạt từ 300 - 500kg rau/ ngày. Tại tỉnh vĩnh phúc UBND Tỉnh đã giao cho Chỉ cục Bảo vệ thực vật tỉnh chủ nhiệm chương trình rau sạch cộng đồng Vĩnh Phúc, qua 5 năm (1997- 2001) đã đạt được nhiều thành công.
Chi cục BVTV Vĩnh Phúc đã xây dựng và ban hành 9 quy trình kỹ thuật sản xuất rau sạch ( cải bắp, cải xanh, cà chua, hành tây, khoai tây, đỗ leo, rau muống, dưa chuột, xu hào) và 5 quy trình sản xuất nấm ăn sạch, xây dựng được I0 vùng sản xuất rau an toàn trọng điểm trong tỉnh. Năm 2002 tại Hải Dương, Sở KHCN&MT cùng Chỉ cục BVTV Hải Dương tổ chức thực hiện trồng thí điểm 10 ha rau an toàn/ 2 vụ tại Hợp tác xã dịch vụ hông nghiệp Gia Xuyên. Qua 2 vụ đạt kết quả là giúp nông dân áp dụng các kỹ thuật trồng rau an toàn như dùng chế phẩm sinh học ủ phân hữu cơ, dùng chế phẩm sinh học để phòng trừ sâu hại, bẫy bắt côn trùng Pheromon, giảm chỉ phí thuốc bảo vệ thực vật. - Tại Sơn La những năm gần đây diện tích trồng rau ngày càng được mở rộng với các chủng loại rau phong phú, việc luân canh và xen canh được áp dụng.
Diện tích rau trong toàn tỉnh khoảng 2.450ha với các chủng loại rau gồm: rau họ hoa thập tự, cà chua , khoai tây, đậu đỗ, dưa leo, hành, rau muống. Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên cây rau, theo kiểm tra của Chi cục BVTV Sơn La những năm gần đây việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở một số vùng sản xuất rau lớn như : Phù Yên, Mộc Châu, Mai Sơn và Thị xã, nhiều hộ nông dân còn sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ngoài danh mục thuốc được phép sử dụng, thuốc không nhãn mác nhập lậu, thuốc có độ độc cao, sử dụng thuốc không đúng kỹ thuật. Từ năm 1998-2000 Chỉ cục BVTV Sơn La đã mở được 9 lớp IPM trên cây rau cho 270 người nông dân tham gia tại các huyện Mai Sơn, Mộc Châu, Phù Yên và Thị Xã.