CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRÊN NỀN TẢNG DI ĐỘNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến ứng dụng thương mại điện tử trên nền tảng di động 1. Các công trình nghiên cứu về phương pháp nghiên cứu ứng dụng thương mại điện tử trên nền tảng di động Bài viết của Teo và Tan (1998) khẳng định rằng Internet đã nhận được sự chú ý đáng kể với số lượng máy chủ và người dùng trên Internet tăng lên nhanh chóng với cấp độ số nhân. Mặc dù Internet tăng trưởng nhanh chóng song còn chưa có nhiều nghiên cứu thực nghiệm về Internet.
Trong bài viết này, hai tác giả đã góp phần lấp đầy khoảng trống đó bằng cách tiến hành khảo sát bằng bảng hỏi đối với đối với những tổ chức ứng dụng Internet và tổ chức không ứng dụng Internet ở Singapore. Một số nhân tố như đặc điểm tổ chức, lợi ích mà ứng dụng Internet mang lại, nguyên nhân không ứng dụng Internet, tiêu chí lựa chọn các nhà cung cấp dịch vụ truy cập Internet, v. đã được kiểm định, qua đó góp phần hiểu rõ hơn về hiện tượng Internet ở Singapore. Bài viết của Khalifa và cộng sự (2012) đã nghiên cứu tìm hiểu vì sao mà tỷ lệ sử dụng điện thoại di động thì cao mà mức độ chấp nhận TMDĐ lại tương đối thấp và hướng đến giải quyết vấn đề không nhất quán trong các nghiên cứu về việc chấp nhận CNTT trước đây liên quan đến tính nhất quán của quan hệ giữa thái độ và ý định.
Ngoài ra, các tác giả cũng đã cung cấp cơ sở lý thuyết cho các biện pháp can thiệp khác nhau nhằm thúc đẩy việc chấp nhận TMDĐ. Các tác giả đã mở rộng lý thuyết hành vi có kế hoạch bằng cách tích hợp yếu tố tự tin làm yếu tố điều tiết cho quan hệ giữa thái độ và ý định. Bài viết của Phong Nguyen, Khoi Nguyen và Angelina Le (2018) đã thảo luận về các động lực của hành vi mua sắm trên thiết bị di động từ quan điểm thuyết 10 hành động hợp lý (TRA), cũng như các mặt thúc đẩy và rào cản trong hoạt động kinh doanh TMDĐ. Kết quả là nghiên cứu đã chứng minh khả năng dự đoán của TRA trong việc khám phá hành vi của người tiêu dùng trong bối cảnh mua sắm trên thiết bị di động.
Ngoài ra, cả các biến số về khuyến mại và rào cản đều có tác động mạnh đến ý định áp dụng hình thức mua sắm trên thiết bị di động. Các công trình nghiên cứu về nội dung ứng dụng thương mại điện tử trên nền tảng di động Bắt đầu từ năm 2003, Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin, Bộ Công thương (Việt Nam) đã thực hiện các Báo cáo Thương mại điện tử Việt Nam. Đây là báo cáo hàng năm được Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin thực hiện dựa trên các nghiên cứu, phân tích, kết hợp với điều tra và phỏng vấn thực tế với mục tiêu đưa ra bức tranh toàn cảnh về tình hình phát triển và ứng dụng TMĐT nói chung và ứng dụng TMĐT trên nền tảng di động nói riêng trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội Việt Nam, với điểm nhấn là những lĩnh vực có sự tiến bộ rõ nét nhất trong năm đó. Riêng năm 2014, Cục này đã thực hiện “Báo cáo thương mại điện tử trên nền tảng di động Việt Nam”, trong đó cung cấp những khảo sát, thống kê trong năm 2014 về dịch vụ TMDĐ tại thị trường Việt Nam, tập trung vào các sàn giao dịch bán hàng B2C, sàn thương mại C2C; dịch vụ ngân hàng – thanh toán trên di động: dịch vụ thanh toán điện tử trên di động, dịch vụ ngân hàng điện tử trên di động; dịch vụ tương tác trên di động: dịch vụ đặt chỗ taxi, dịch vụ cung cấp voucher/coupon/thẻ thành viên; dịch vụ nội dung số: kinh doanh nội dung số trên thiết bị di động, bản đồ số trên thiết bị di động; ứng dụng, trò chơi trên di động: ứng dụng trên thiết bị di động, trò chơi trên thiết bị di động.
Báo cáo khẳng định, TMĐT trên nền tảng di động tại Việt Nam đang trong giai đoạn đầu tiên phát triển với nhiều dấu hiệu rất tích cực và với tiềm năng thị trường lớn, đây chắc chắn là xu hướng thu hút được sự quan tâm, khai tác của các nhà đầu tư, các nhà phát triển ứng dụng và DN cả trong và ngoài nước. Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin (nay là Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số), Bộ Công thương còn có ấn phẩm “Sách trắng Thương mại 11 điện tử” (2017, 2018, 2019, 2021, 2022), tiền thân là “Báo cáo Thương mại điện tử” (2003, 2004, 2005, 2006, 2007, 2008, 2009, 2010, 2011, 2012, 2013, 2014, 2015). Đây là một tài liệu được xuất bản thường niên với mục tiêu tổng hợp, cập nhật thông tin, số liệu toàn cảnh về môi trường chính sách pháp luật về TMĐT cũng như tình hình ứng dụng TMĐT trong cộng đồng (quy mô thị trường B2C của Việt Nam so với thế giới, mức độ ứng dụng TMĐT trong cộng đồng) và DN ở Việt Nam (mức độ sẵn sàng ứng dụng TMĐT của DN, các hình thức ứng dụng TMĐT của DN, tình hình vận hành website TMĐT/ứng dụng di động, tình hình sử dụng dịch vụ công trực tuyến của DN, v. Tài liệu này còn cung cấp cả số liệu điều tra chính thức về mức độ ứng dụng TMĐT tại khu vực nông thôn, từ đó giúp hoàn thiện bức tranh tổng thể về TMĐT của Việt Nam nói chung và TMĐT trên nền tảng di động của Việt Nam nói riêng.
Sameeah Alvi (2016) khẳng định TMDĐ là thế hệ TMĐT tiếp theo tạo điều kiện cho người dùng truy cập Internet mà không cần nơi cắm ổ cắm. Tác giả đã khám phá cách thức và lý do vì sao TMDĐ trở nên phổ biến và chiếm lĩnh TMĐT, đặt trọng tâm vào các ngân hàng ở Pakistan. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự xuất hiện của TMDĐ đã góp phần bổ sung thêm lợi nhuận cho cuộc cách mạng trong lĩnh vực thương mại và TMDĐ đang không ngừng chiếm lĩnh TMĐT cũng như các hoạt động TMĐT. VCCI (2021) đã nghiên cứu các phương thức hoạt động có yếu tố TMĐT thông qua công cụ mạng xã hội tại Việt Nam, tập trung vào hai loại hình B2C (Business to Customer) và C2C (Customer to Customer), có so sánh với các website, ứng dụng và sàn giao dịch TMĐT để từ đó đề xuất một số cơ chế quản lý cụ thể, hiệu quả và phù hợp nhằm thúc đẩy sự phát triển của các hoạt động TMĐT này.
Vũ Thị Hương Trà và cộng sự (2023) đã tập trung phân tích thực trạng phát triển TMĐT tại Việt Nam, đặt trọng tâm vào loại hình B2C trong giai đoạn 2017- 2022 để chỉ ra một số thành tựu và hạn chế trong hoạt động này. Các tác giả còn chỉ ra những triển vọng phát triển TMĐT tại Việt Nam, và đề xuất 03 nhóm giải pháp, 12 liên quan đến hành lang pháp lý về TMĐT; hạ tầng số, hạ tầng TMĐT; và nguồn nhân lực số, nhân lực TMĐT. “Báo cáo Chỉ số thương mại điện tử Việt Nam” là một báo cáo thường niên do Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM) thực hiện, bắt đầu từ năm 2012. Tính đến năm 2024, đã có 12 báo cáo được VECOM thực hiện.
Các báo cáo này đã trình bày tổng quan một số xu hướng nổi bật trong phát triển TMĐT ở Việt Nam nói chung, trong đó có đề cập đến những thay đổi về chính sách pháp lý, thực trạng phát triển và ứng dụng TMĐT cũng như ứng dụng di động trong TMĐT của DN và người dân, đồng thời tập trung phân tích bức tranh toàn cảnh về TMĐT hàng năm, tập trung vào một số lĩnh vực cụ thể như: hạ tầng và nguồn nhân lực; giao dịch TMĐT DN với người tiêu dùng (B2C), giao dịch TMĐT DN với DN (B2B), giao dịch giữa Chính phủ với DN (G2B). Ngoài ra, báo cáo còn có một phần cho biết chỉ số TMĐT từng năm theo địa phương, bao gồm: chỉ số về nguồn nhân lực và hạ tầng công nghệ thông tin; chỉ số về giao dịch giữa DN với người tiêu dùng; chỉ số về giao dịch giữa DN với DN và chỉ số TMĐT các địa phương. Vũ Huy Hùng và Trần Ngọc Tiến (2024) đã phân tích thực trạng phát triển TMĐT, tập trung vào loại hình B2C giai đoạn 2018-2023 để chỉ ra một số thành tựu cũng như một số vấn đề đặt ra đối với loại hình kinh doanh này. Các tác giả cũng đưa ra một số dự báo về TMĐT ở Việt Nam và thế giới đến năm 2027, và đề xuất một số giải pháp cho các DN để TMĐT ở Việt Nam phát triển bứt phá hơn nữa: đổi mới và hoàn thiện chiến lược kinh doanh; chủ động trong việc tìm hiểu thông tin thị trường, đối tác; chú trọng chất lượng sản phẩm sao cho đáp ứng các quy định của thị trường nhập khẩu.
Về sự phát triển nói chung của ứng dụng TMĐT trên nền tảng di động, Trần Trọng Huy và Nguyễn Thị Khánh Chi (2022) đã phân tích, đánh giá thực trạng phát triển TMĐT ở Việt Nam, trong đó có cả TMDĐ và 05 nhóm giải pháp để phát triển TMĐT của Việt Nam, tập trung vào vấn đề chất lượng (thông tin, giao dịch, sản phẩm/dịch vụ, các ứng dụng bán hàng), vấn đề rủi ro trong giao dịch, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực phục vụ phát triển TMĐT và vấn đề công nghệ thông tin. Ngoài ra, 13 còn có thể kể đến bài viết của Võ Thị Hiệp (2023), trong đó tác giả tập trung phân tích, làm rõ tình hình phát triển TMĐT ở Việt Nam nói chung và phát triển TMĐT trên ứng dụng di động nói riêng từ năm 2015-2022 để từ đó chỉ ra một số tồn tại, hạn chế trong phát triển TMĐT trên ứng dụng di động và đề xuất 05 giải pháp liên quan đến (i) cơ chế, chính sách; (ii) hạ tầng công nghệ thông tin, (iii) thanh toán điện tử, (iv) hạ tầng logistics, và (v) thị trường. Các công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến ứng dụng thương mại điện tử trên nền tảng di động Tariq Bhatti (2007) đã trình bày mô hình chấp nhận công nghệ (TAM – technology acceptance model) mở rộng trong đó tích hợp lý thuyết khuếch tán đổi mới (DOI) để tìm hiểu những yếu tố quyết định chấp nhận TMDĐ của người dùng.