Khoá luận tốt nghiệp ứng dụng thương mại điện tử vào quảng bá thương hiệu cho công ty cổ phần thương mại và nội thất ht

Khóa luận tốt nghiệp phân tích ứng dụng thương mại điện tử trong quảng bá thương hiệu cho Công ty Cổ phần Thương mại và Nội thất HT.

Trường đại học

Đại học Dân lập Hải Phòng

Chuyên ngành

Marketing

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2019

66
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

1.1. Thương mại điện tử

1.2. Các mô hình ứng dụng thương mại điện tử

1.3. Các cấp độ phát triển của thương mại điện tử

1.4. Một số định nghĩa liên quan trong thương mại điện tử

1.5. Các công cụ Truyền thông tiếp thị trực tuyến (Marketing Communications)

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VÀ NỘI THẤT HT

2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty cổ phần thương mại và nội thất HT

2.1.1. Giới thiệu khái quát về công ty cổ phần thương mại và nội thất HT

2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp

2.1.3. Cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần thương mại và nội thất HT

2.1.4. Phân tích báo cáo kết quả hoạt động doanh

2.2. Hoạt động marketing của công ty cổ phần thương mại và nội thất HT

2.2.1. Phân tích thị trường của công ty cổ phần thương mại và nội thất HT

2.2.2. Các hoạt động marketing trong công ty cổ phần thương mại và nội thất HT

2.3. Đối thủ cạnh tranh của công ty cổ phần thương mại và nội thất HT

2.3.1. Đối thủ hiện tại

2.3.2. Đối thủ tiềm tàng

2.4. Thực trạng ứng dụng thương mại điện tử tại công ty cổ phần thương mại và nội thất HT

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀO QUẢNG BÁ THƯƠNG HIỆU CHO CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VÀ NỘI THẤT HT

3.1. Xác định thị trường mục tiêu cho việc ứng dụng thương mại điện tử trong quảng bá thương hiệu HT Interior

3.2. Xác định mục tiêu thông tin và thiết kế thông điệp cho ứng dụng thương mại điện tử trong quảng bá thương hiệu HT Interior

3.3. Lập kế hoạch ứng dụng thương mại điện tử vào việc quảng bá thương hiệu HT Interior

3.3.1. Hoạch định ngân sách

3.3.2. Đánh giá hiệu quả

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận về thương mại điện tử

Chương này trình bày nền tảng lý thuyết về thương mại điện tử, bao gồm các khái niệm, mô hình ứng dụng, và cấp độ phát triển. Thương mại điện tử được định nghĩa theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng, với các hoạt động từ mua bán hàng hóa đến các giao dịch tài chính. Các mô hình ứng dụng như B2B, B2C, B2G, C2C, và G2C được phân tích chi tiết, nhấn mạnh vai trò của từng mô hình trong việc thúc đẩy kinh doanh. Cấp độ phát triển của thương mại điện tử được chia thành 6 giai đoạn, từ hiện diện trên mạng đến triển khai hệ thống thương mại điện tử hoàn chỉnh.

1.1 Khái niệm thương mại điện tử

Thương mại điện tử được định nghĩa theo hai quan điểm: nghĩa hẹp và nghĩa rộng. Theo nghĩa hẹp, nó liên quan đến việc mua bán hàng hóa và dịch vụ qua Internet. Theo nghĩa rộng, nó bao gồm các giao dịch tài chính và thương mại thông qua phương tiện điện tử. Các định nghĩa từ WTO, APEC, và UNCITRAL được trích dẫn để làm rõ phạm vi và tầm quan trọng của thương mại điện tử trong nền kinh tế hiện đại.

1.2 Mô hình ứng dụng thương mại điện tử

Các mô hình ứng dụng thương mại điện tử bao gồm B2B, B2C, B2G, C2C, và G2C. Mỗi mô hình có đặc điểm và lợi ích riêng, phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp. Ví dụ, B2B chiếm tỷ trọng lớn trong thương mại điện tử, trong khi B2C mang lại sự tiện lợi cho người tiêu dùng. Các mô hình này giúp doanh nghiệp giảm chi phí, tăng hiệu quả kinh doanh và mở rộng thị trường.

II. Thực trạng ứng dụng thương mại điện tử tại công ty HT

Chương này phân tích thực trạng ứng dụng thương mại điện tử tại công ty nội thất HT. Công ty đã bước đầu triển khai các hoạt động quảng bá thương hiệubán hàng trực tuyến, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Các hoạt động marketing trực tuyến chưa được tối ưu hóa, và việc sử dụng công nghệ thương mại điện tử chưa đạt hiệu quả cao. Phân tích báo cáo hoạt động từ năm 2015 đến 2017 cho thấy sự cần thiết phải cải thiện chiến lược quảng cáo trực tuyếnxây dựng thương hiệu.

2.1 Lịch sử và cơ cấu tổ chức

Công ty nội thất HT được thành lập với mục tiêu cung cấp các sản phẩm nội thất cao cấp. Cơ cấu tổ chức của công ty bao gồm các phòng ban chức năng, hỗ trợ hoạt động kinh doanh và quảng bá thương hiệu. Tuy nhiên, việc ứng dụng thương mại điện tử vẫn chưa được chú trọng đúng mức, dẫn đến hiệu quả kinh doanh chưa cao.

2.2 Thực trạng marketing và quảng bá

Các hoạt động marketing trực tuyến của công ty chủ yếu tập trung vào việc quảng cáo trên các nền tảng mạng xã hội. Tuy nhiên, chiến lược quảng cáo trực tuyến chưa được tối ưu hóa, dẫn đến hiệu quả thấp. Việc xây dựng thương hiệu cũng chưa được chú trọng, khiến thương hiệu HT nội thất chưa được biết đến rộng rãi.

III. Giải pháp ứng dụng thương mại điện tử tại công ty HT

Chương này đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện việc ứng dụng thương mại điện tử tại công ty nội thất HT. Các giải pháp bao gồm việc xác định thị trường mục tiêu, thiết kế thông điệp quảng cáo hiệu quả, và lập kế hoạch quảng bá thương hiệu chi tiết. Việc tối ưu hóa quảng cáo trực tuyến và sử dụng hiệu quả công nghệ thương mại điện tử sẽ giúp công ty nâng cao hiệu quả kinh doanh và xây dựng thương hiệu mạnh mẽ hơn.

3.1 Xác định thị trường mục tiêu

Việc xác định thị trường mục tiêu là bước quan trọng trong chiến lược quảng bá thương hiệu. Công ty cần tập trung vào các phân khúc khách hàng có tiềm năng cao, đồng thời sử dụng tiếp thị số để tiếp cận hiệu quả hơn. Điều này giúp tăng khả năng cạnh tranh và mở rộng thị phần.

3.2 Tối ưu hóa quảng cáo trực tuyến

Công ty cần tối ưu hóa các chiến dịch quảng cáo trực tuyến bằng cách sử dụng các công cụ phân tích dữ liệu và tiếp thị số. Việc này giúp đo lường hiệu quả quảng cáo và điều chỉnh chiến lược phù hợp, từ đó nâng cao hiệu quả quảng bá thương hiệu và tăng doanh thu.

12/02/2025
Khoá luận tốt nghiệp ứng dụng thương mại điện tử vào quảng bá thương hiệu cho công ty cổ phần thương mại và nội thất ht

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1.1 Thương mại điện tử 1.1 Khái niệm Hiện nay, khái niệm thương mại điện tử chưa được thống nhất, vẫn còn tồn tại nhiều cách định nghĩa khác nhau. Nhưng nhìn chung, ta có hai quan điểm khái niệm thương mại điện tử như sau: Khái niệm thương mại điện tử theo nghĩa hẹp: Theo nghĩa hẹp, thương mại điện tử chỉ đơn thuần là việc mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử, nhất là qua Internet và các mạng viễn thông khác. Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), "Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mạng Internet". Theo Ủy ban Thương mại điện tử của Tổ chức hợp tác kinh tế châu Á- Thái Bình Dương (APEC), "Thương mại điện tử là công việc kinh doanh được tiến hành thông qua truyền thông số liệu và công nghệ tin học kỹ thuật số".

Khái niệm thương mại điện tử theo nghĩa rộng: Thương mại điện tử hiểu theo nghĩa rộng là các giao dịch tài chính và thương mại bằng phương tiện điện tử như: trao đổi dữ liệu điện tử, chuyển tiền điện tử và các hoạt động như gửi/rút tiền bằng thẻ tín dụng. Theo quan điểm này, có hai định nghĩa khái quát được đầy đủ nhất phạm vi hoạt động của Thương mại điện tử: Luật mẫu về Thương mại điện tử của Uỷ ban Liên hợp quốc về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL) định nghĩa: "Thuật ngữ thương mại [commerce] cần được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng. Các quan hệ mang tính thương mại [commercial] bao gồm, nhưng không chỉ bao gồm, các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hoá hoặc dịch vụ; thoả thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại, uỷ thác hoa hồng (factoring), cho thuê dài hạn (leasing); xây dựng các công trình; tư vấn, kỹ thuật công trình (engineering); đầu tư; cấp vốn, ngân hàng; bảo hiểm; thoả thuận khai thác hoặc tô nhượng, liên doanh và các hình thức về hợp tác Sinh viên: Trần Thị Minh Châu 3 Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Dân Lập Hải Phòng công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hoá hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ". Theo định nghĩa này, có thể thấy phạm vi hoạt động của thương mại điện tử rất rộng, bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế, trong đó hoạt động mua bán hàng hoá và dịch vụ chỉ là một phạm vi rất nhỏ trong thương mại điện tử.

Theo Uỷ ban châu Âu: "Thương mại điện tử được hiểu là việc thực hiện hoạt động kinh doanh qua các phương tiện điện tử. Nó dựa trên việc xử lý và truyền dữ liệu điện tử dưới dạng text, âm thanh và hình ảnh". Thương mại điện tử trong định nghĩa này gồm nhiều hành vi trong đó: hoạt động mua bán hàng hoá; dịch vụ; giao nhận các nội dung kỹ thuật số trên mạng; chuyển tiền điện tử; mua bán cổ phiếu điện tử, vận đơn điện tử; đấu giá thương mại; hợp tác thiết kế; tài nguyên trên mạng; mua sắm công cộng; tiếp thị trực tiếp với người tiêu dùng và các dịch vụ sau bán hàng; đối với thương mại hàng hoá (như hàng tiêu dùng, thiết bị y tế chuyên dụng) và thương mại dịch vụ (như dịch vụ cung cấp thông tin, dịch vụ pháp lý, tài chính); các hoạt động truyền thống (như chăm sóc sức khoẻ, giáo dục) và các hoạt động mới (như siêu thị ảo). Theo quan điểm thứ hai nêu trên, "thương mại" (commerce) trong "thương mại điện tử" không chỉ là buôn bán hàng hoá và dịch vụ (trade) theo các hiểu thông thường, mà bao quát một phạm vi rộng lớn hơn nhiều, do đó việc áp dụng thương mại điện tử sẽ làm thay đổi hình thái hoạt động của hầu hết nền kinh tế.

Theo ước tính đến nay, thương mại điện tử có tới trên 1.300 lĩnh vực ứng dụng, trong đó, buôn bán hàng hoá và dịch vụ chỉ là một lĩnh vực ứng dụng. Bên cạnh đó, còn có một định nghĩa cho ta thấy hết những hoạt động của thương mại điện tử: “Thương mại điện tử đơn giản là các giao dịch được thực hiện thông qua các mạng công cộng và cá nhân, bao gồm một loạt các hoạt động như bán lẻ điện tử (e-Tailing), thị trường điện tử (e-Marketplace), dẫn dắt điện tử (e-Procurement), chính phủ điện tử (e-Government) và các dịch vụ ngân hàng điện tử (e-Banking), ERM (Enterprise Resource Management), CRM (Customer Relationship Management), MRP (Materials Requirements Planning) và VCM (Voice Connection Management)”. Sinh viên: Trần Thị Minh Châu 4 Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Dân Lập Hải Phòng 1.2 Các mô hình ứng dụng thương mại điện tử Dựa vào các chủ thể tham gia giao dịch thương mại điện tử, người ta phân thành các mô hình ứng dụng thương mại điện tử gồm:  Giao dịch giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp – B2B B2B là loại hình giao dịch qua các phương tiện điện tử giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp. Theo Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD), thương mại điện tử B2B chiếm tỷ trọng lớn trong thương mại điện tử (khoảng 90%).

Các giao dịch B2B chủ yếu được thực hiện trên các hệ thống ứng dụng thương mại điện tử như mạng giá trị gia tăng (VAN); dây chuyền cung ứng hàng hóa, dịch vụ (SCM); các sàn giao dịch thương mại điện tử… Các doanh nghiệp có thể chào hàng, tìm kiếm bạn hàng, đặt hàng, ký kết hợp đồng, thanh toán qua các hệ thống này. Ở một mức độ cao, các giao dịch này có thể diễn ra một cách tự động, thương mại điện tử B2B đem lại nhiều lợi ích thực tế cho doanh nghiệp, đặc biệt giúp giảm các chi phí về thu thập thông tin tìm hiểu thị trường, quảng cáo, tiếp thị, đàm phán; tăng các cơ hội kinh doanh…  Giao dịch giữa doanh nghiệp với khách hàng – B2C B2C là loại hình giao dịch giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng qua các phương tiện điện tử. Doanh nghiệp sử dụng các phương tiện điện tử để bán hàng hóa, dịch vụ tới người tiêu dùng. Người tiêu dùng thông qua các phương tiện điện tử để lựa chọn, mặc cả, đặt hàng, thanh toán, nhận hàng.

Giao dịch B2C tuy chiếm tỷ trọng ít (khoảng 10%) trong thương mại điện tử, nhưng có phạm vi ảnh hưởng rộng. Để tham gia hình thức kinh doanh này, thông thường doanh nghiệp sẽ thiết lập website, hình thành cơ sở dữ liệu về hàng hóa, dịch vụ, tiến hành các quy trình tiếp thị, quảng cáo, phân phối trực tiếp tới người tiêu dùng. Thương mại điện tử B2C đem lại lợi ích cho cả doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng. Doanh nghiệp tiết kiệm nhiều chi phí bán hàng do không cần phòng trưng bày hay thuê người giới thiệu bán hàng, chi phí quản lý cũng giảm hơn.

Người tiêu dùng sẽ cảm thấy thuận tiện vì không phải tới tận cửa hàng, có khả năng lựa chọn và so sánh nhiều mặt hàng cùng một lúc.  Giao dịch giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước – B2G B2G là loại hình giao dịch giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước, trong đó cơ quan nhà nước đóng vai trò khách hàng. Quá trình trao đổi thông tin giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước được tiến hàng qua các phương tiện điện tử. Cơ quan nhà nước cũng có thể thiết lập các website, tại đó đăng tải thông tin về Sinh viên: Trần Thị Minh Châu 5 Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Dân Lập Hải Phòng nhu cầu mua hàng của các cơ quan nhà nước, tiến hành việc đấu thầu hàng hóa, dịch vụ và lựa chọn nhà cung cấp trên website.

Điều này, một mặt giúp tiết kiệm các chi phí tìm nhà cung cấp, mặt khác giúp tăng cường tính minh bạch trong hoạt động mua sắm công.  Giao dịch trực tiếp giữa các cá nhân với nhau – C2C C2C là loại hình giao dịch giữa các cá nhân với nhau. Sự phát triển của các phương tiện điện tử làm cho nhiều cá nhân có thể tham gia hoạt động thương mại với tư cách là người bán, người cung cấp dịch vụ. Một cá nhân có thể tự thiết lập website để kinh doanh những mặt hàng do mình làm ra hoặc sử dụng một website có sẵn để đấu giá một số món hàng mình có.

C2C góp phần tạo nên sự đa dạng của thị trường.  Giao dịch giữa cơ quan nhà nước với cá nhân – G2C G2C là loại hình giao dịch giữa cơ quan nhà nước với cá nhân. Đây chủ yếu là các giao dịch mang tính hành chính, nhưng có thể mang những yếu tố của thương mại điện tử. Ví dụ, khi người dân đóng tiền thuế qua mạng, trả phí khi đăng ký hồ sơ trực tuyến, v.3 Các cấp độ phát triển của thương mại điện tử Thương mại điện tử được chia thành nhiều cấp độ phát triển.

Nhưng nhìn chung ta có hai cách phân chia sau:  Cách phân chia thứ nhất: 6 cấp độ phát triển thương mại điện tử Cấp độ 1 – hiện diện trên mạng: doanh nghiệp có website trên mạng. Ở mức độ này, website rất đơn giản, chỉ là cung cấp một thông tin về doanh nghiệp và sản phẩm mà không có các chức năng phức tạp khác. Cấp độ 2 – có website chuyên nghiệp: website của doanh nghiệp có cấu trúc phức tạp hơn, có nhiều chức năng tương tác với người xem, hỗ trợ người xem, người xem có thể liên lạc với doanh nghiệp một cách thuận tiện. Cấp độ 3 – chuẩn bị thương mại điện tử: doanh nghiệp bắt đầu triển khai bán hàng hay dịch vụ qua mạng.

Tuy nhiên, doanh nghiệp chưa có hệ thống cơ sở dữ liệu nội bộ để phục vụ các giao dịch trên mạng. Các giao dịch còn chậm và không an toàn. Cấp độ 4 – áp dụng thương mại điện tử: website của doanh nghiệp liên kết trực tiếp với dữ liệu trong mạng nội bộ của doanh nghiệp, các hoạt động truyền dữ liệu được tự động hóa, hạn chế sự can thiệp của con người và vì thế làm giảm đáng kể chi phí hoạt động và tăng hiệu quả. Sinh viên: Trần Thị Minh Châu 6 Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Dân Lập Hải Phòng Cấp độ 5 – thương mại điện tử không dây: doanh nghiệp áp dụng thương mại điện tử trên các thiết bị không dây như điện thoại di động, pocket PC (máy tính bỏ túi) v.v… sử dụng giao thức truyền thông không dây WAP (Wireless Application Protocal).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Ứng dụng thương mại điện tử trong quảng bá thương hiệu cho công ty nội thất HT" tập trung vào việc khai thác tiềm năng của thương mại điện tử (TMĐT) trong việc xây dựng và quảng bá thương hiệu cho các doanh nghiệp nội thất. Bài viết nhấn mạnh cách TMĐT giúp công ty HT tiếp cận khách hàng mục tiêu hiệu quả hơn, tăng khả năng hiển thị thương hiệu, và tối ưu hóa chi phí marketing. Đồng thời, bài viết cũng phân tích các chiến lược cụ thể như tối ưu hóa website, sử dụng mạng xã hội, và quảng cáo trực tuyến để tạo ra lợi thế cạnh tranh.

Để hiểu sâu hơn về các yếu tố tác động đến việc ứng dụng TMĐT trong kinh doanh, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ phân tích các yếu tố tác động đến việc ứng dụng thương mại điện tử trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Kiên Giang. Ngoài ra, nếu quan tâm đến quản trị rủi ro trong quảng bá thương hiệu, bài viết Luận văn thạc sĩ quản trị báo chí và tuyên truyền quản trị rủi ro trong hoạt động quảng bá thương hiệu qua các sản phẩm nghe nhìn trên các phương tiện truyền thông đại chúng sẽ cung cấp thêm góc nhìn chuyên sâu. Các bài viết này là cơ hội tuyệt vời để mở rộng kiến thức và áp dụng vào thực tiễn kinh doanh của bạn.