Ứng dụng một số phần mềm dạy học trong chủ đề thống kê và xác suất môn toán lớp 6

Khám phá ứng dụng phần mềm dạy học hiệu quả chủ đề Thống kê và Xác suất Toán lớp 6. Nâng cao hứng thú, dễ hiểu, giúp học sinh tiếp thu bài tốt hơn.

Chuyên ngành

Sư phạm Toán học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2023

135
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

2. Tổng quan tình hình nghiên cứu

2.1. Tình hình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài

2.2. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

3. Mục đích nghiên cứu

4. Nhiệm vụ nghiên cứu

5. Câu hỏi nghiên cứu

6. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

7. Giả thuyết nghiên cứu

8. Phạm vi nghiên cứu

9. Phương pháp nghiên cứu

10. Cấu trúc luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC VÀ DẠY HỌC THỐNG KÊ VÀ XÁC SUẤT

1.1. Khái quát về vai trò và tình hình ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

1.1.1. Vai trò của ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

1.1.2. Tình hình ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

1.1.2.1. Tình hình ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học trên thế giới
1.1.2.2. Tình hình ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại Việt Nam

1.1.3. Những xu thế mới của công nghệ trong giáo dục hiện nay

1.2. Khái quát về thống kê và xác suất và nội dung chương trình giáo dục phổ thông về thống kê và xác suất tại Việt Nam

1.2.1. Khái niệm, lịch sử hình thành và ý nghĩa thực tiễn của Thống kê và Xác suất

1.2.2. Về Thống kê

1.2.3. Nội dung chương trình giáo dục phổ thông về Thống kê và Xác suất tại Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DẠY HỌC THỐNG KÊ VÀ XÁC SUẤT – MÔN TOÁN LỚP 6

2.1. Giới thiệu khái quát về chương trình giáo dục phổ thông mới đối với nội dung thống kê và xác suất - môn toán lớp 6

2.1.1. Mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông mới – môn Toán

2.1.2. Nội dung chương trình giáo dục phổ thông mới đối với nội dung thống kê và xác suất - môn toán lớp 6

2.2. Thực trạng dạy học nội dung thống kê và xác suất - môn toán lớp 6

2.2.1. Đối với nội dung Thống Kê – môn toán lớp 6

2.2.2. Đối với Nhóm bài học về Dữ liệu và thu thập dữ liệu

2.2.3. Đối với nhóm bài học về Bảng thống kê và biểu đồ tranh, biểu đồ cột, biểu đồ cột kép

2.2.4. Đối với nhóm bài học về Kết quả có thể và sự kiện trò chơi, thí nghiệm

2.2.5. Đối với nhóm bài học về Xác suất thực nghiệm

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG MỘT SỐ PHẦN MỀM DẠY HỌC TRONG CHỦ ĐỀ THỐNG KÊ VÀ XÁC SUẤT - MÔN TOÁN LỚP 6

3.1. Một số giải pháp ứng dụng các phần mềm chuyên dụng để dạy học thống kê và xác suất – môn toán lớp 6

3.1.1. Ứng dụng các phần mềm chuyên dụng trong dạy học nội dung Thống Kê – môn toán lớp 6

3.1.2. Sử dụng phần mềm Google Form trong dạy học nhóm bài học về Dữ liệu và thu thập dữ liệu

3.1.3. Sử dụng phần mềm Microsoft PowerPoint trong dạy học nhóm bài học về Bảng thống kê và biểu đồ tranh, biểu đồ cột, biểu đồ cột kép

3.2. Ứng dụng các phần mềm chuyên dụng trong dạy học nội dung Xác suất môn toán lớp 6

3.2.1. Sử dụng phần mềm Piliapp trong dạy học nhóm bài học về Kết quả có thể và sự kiện trò chơi, thí nghiệm

3.2.2. Phối hợp sử dụng phần mềm Piliapp và Microsoft Excel trong dạy học nhóm bài học về Xác suất thực nghiệm

3.3. Thực nghiệm sư phạm

3.3.1. Mục đích thực nghiệm

3.3.2. Nội dung thực nghiệm

3.3.3. Phương pháp thực nghiệm

3.3.4. Tổ chức thực nghiệm

3.3.5. Đối tượng thực nghiệm

3.3.6. Chuẩn bị thực nghiệm

3.3.7. Bài giảng thực nghiệm sư phạm

3.3.8. Đánh giá kết quả thực nghiệm

3.3.8.1. Đánh giá định tính
3.3.8.2. Đánh giá định lượng

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1

PHỤ LỤC 2

PHỤ LỤC 3

PHỤ LỤC 4

PHỤ LỤC 5

Tóm tắt

I. Tổng Quan Ứng Dụng Phần Mềm Dạy Thống Kê Xác Suất Toán 6 55 ký tự

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã tạo ra sự phát triển vượt bậc trong lĩnh vực công nghệ, đặc biệt là trong ngành giáo dục. Ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) đã trở thành một yêu cầu bắt buộc trong giáo dục và đào tạo. Trong môn Toán, việc sử dụng CNTT hỗ trợ dạy học giúp phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh. Các em có thể tiếp thu kiến thức một cách trực quan sinh động hơn, từ đó tự giác và tích cực hơn trong học tập. Sự kết hợp giữa kiểm nghiệm bằng máy tính, lập luận suy diễn và minh họa giúp học sinh hình thành kiến thức, rèn luyện kỹ năng và phát triển tư duy. Theo Chương trình Giáo dục Phổ thông mới (ban hành theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT), phương pháp dạy học môn Toán cần tăng cường sử dụng CNTT và các phương tiện, thiết bị dạy học hiện đại một cách phù hợp và hiệu quả. Nội dung môn Toán được tích hợp xoay quanh ba mạch kiến thức: Số, Đại số và Một số yếu tố giải tích; Hình học và Đo lường; Thống kê và Xác suất. Thống kê và Xác suất đóng vai trò quan trọng trong việc giúp học sinh có khả năng phân tích, xử lý thông tin và đưa ra quyết định đúng đắn. Chương trình giáo dục phổ thông mới đã đưa phần kiến thức về thống kê xác suất lớp 6 xuống sớm hơn so với chương trình hiện hành, đồng thời nhấn mạnh ứng dụng công nghệ thông tin. Chính vì vậy, việc nghiên cứu và ứng dụng CNTT để nâng cao hiệu quả dạy học thống kê xác suất lớp 6 là vô cùng cấp thiết. Luận văn "Ứng dụng một số phần mềm dạy học trong chủ đề thống kê và xác suất - môn toán lớp 6" được thực hiện nhằm giải quyết vấn đề này. Theo PGS.TS Ngô Hoàng Long: “Xã hội hiện đại ngày càng có nhiều luồng thông tin và các vấn đề đặt ra, vì vậy mỗi người không chỉ dừng lại ở tiếp nhận thông tin mà cần phải biết phân tích, xử lý các thông tin mình nhận được. Có kiến thức về thống kê, xác suất sẽ giúp học sinh có nhận thức và khả năng đưa ra những quyết định đúng đắn và tốt hơn. Vì vậy, thống kê, xác suất được định hướng là một trong ba mảng kiến thức quan trọng của môn Toán ở Chương trình giáo dục phổ thông mới.”

1.1. Tầm quan trọng của thống kê và xác suất trong toán học lớp 6

Thống kê và xác suất không chỉ là một phần của chương trình toán học, mà còn là công cụ quan trọng giúp học sinh phát triển tư duy phản biện, kỹ năng giải quyết vấn đề và khả năng ứng dụng kiến thức vào thực tế. Việc học thống kê xác suất lớp 6 giúp học sinh làm quen với việc thu thập, phân tích và biểu diễn dữ liệu, từ đó đưa ra những nhận xét và kết luận có căn cứ. Theo tài liệu gốc, chương trình GDPT mới nhấn mạnh vào việc ứng dụng công nghệ thông tinphần mềm dạy học để hỗ trợ quá trình này.

1.2. Ứng dụng CNTT trong dạy và học thống kê xác suất

Sử dụng các công cụ dạy học trực tuyến thống kê xác suất lớp 6 như phần mềm vẽ biểu đồ thống kê hoặc các ứng dụng mô phỏng thí nghiệm ngẫu nhiên, giúp học sinh hình dung và hiểu rõ hơn các khái niệm trừu tượng. Việc ứng dụng CNTT còn tạo ra môi trường học tập tương tác, khuyến khích học sinh tham gia tích cực vào quá trình khám phá và xây dựng kiến thức. Phần mềm dạy học tương tác môn toán lớp 6 là một giải pháp hiệu quả để tăng tính hấp dẫn của bài học.

II. Thách Thức Dạy và Học Thống Kê Xác Suất Lớp 6 Hiện Nay 58 ký tự

Mặc dù có nhiều tiềm năng, việc dạy và học thống kê xác suất lớp 6 vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức. Theo kết quả khảo sát, đa số học sinh chưa được hướng dẫn ứng dụng phần mềm trong các bài học thống kê xác suất. Mức độ hiểu bài và hứng thú của học sinh khi học các bài trong chương IX – Dữ liệu và xác suất thực nghiệm, SGK Toán 6 tập 2, bộ sách kết nối tri thức với cuộc sống chỉ đạt mức khá. Giáo viên gặp khó khăn trong việc thu thập dữ liệu thống kê trong phạm vi hẹp, điều kiện khảo sát phải làm trực tiếp, dẫn đến không đảm bảo thời lượng trong một tiết học. Đặc biệt trong giai đoạn học tập online, việc thu thập dữ liệu theo các phương pháp trên là tương đối khó. Việc dạy học nội dung vẽ biểu đồ còn nhiều vấn đề khó, chẳng hạn như khi học sinh vẽ biểu đồ tranh, học sinh vẽ các biểu tượng, dù đã chọn các biểu tượng đơn giản, dễ vẽ tay nhưng thường không đều, chưa thẩm mỹ, và mất nhiều thời gian. Việc tổ chức các trò chơi, thí nghiệm khi dạy học nội dung này mất tương đối nhiều thời gian và tốn nhiều công khi chuẩn bị các đồ dùng cho trò chơi, thí nghiệm. Trong một số tình huống tổ chức trò chơi, thí nghiệm, giáo viên còn phải giải quyết những tình huống gây tranh cãi. Theo khảo sát các thầy cô giáo đã dạy khối 6 ở năm học trước (năm học 2011 – 2022) tại trường THCS Thanh Xuân Nam – quận Thanh Xuân – Hà Nội đều cho rằng, việc lồng ghép các tài liệu dạy học thống kê xác suất lớp 6 còn ít, chưa tạo được sự hứng thú cho học sinh. Việc đánh giá sự hiệu quả của việc ứng dụng CNTT, phần mềm dạy học vào môn Toán còn chưa được triệt để.

2.1. Hạn chế về phương pháp dạy học truyền thống

Phương pháp dạy học truyền thống thường tập trung vào việc truyền đạt kiến thức một chiều, ít tạo cơ hội cho học sinh tham gia vào quá trình khám phá và ứng dụng kiến thức. Việc thu thập và xử lý dữ liệu thường được thực hiện thủ công, tốn nhiều thời gian và công sức, đồng thời không tạo ra sự hứng thú cho học sinh. Các bài giảng điện tử thống kê xác suất lớp 6 cần được thiết kế một cách sáng tạo và hấp dẫn.

2.2. Thiếu hụt về nguồn lực và công cụ hỗ trợ

Nhiều trường học còn thiếu các trang thiết bị và phần mềm hỗ trợ dạy học thống kê xác suất lớp 6. Giáo viên chưa được trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng sử dụng các công cụ CNTT để thiết kế bài giảng và tổ chức các hoạt động học tập hiệu quả.Việc tìm kiếm và lựa chọn các phần mềm hỗ trợ dạy thống kê xác suất lớp 6 phù hợp với trình độ và nhu cầu của học sinh cũng là một thách thức.

2.3. Khó khăn trong việc tạo hứng thú cho học sinh

Các khái niệm thống kê xác suất thường được coi là khô khan và trừu tượng, gây khó khăn cho học sinh trong việc tiếp thu và ghi nhớ kiến thức. Việc thiếu các hoạt động thực hành và ứng dụng thực tế khiến học sinh không thấy được ý nghĩa và tầm quan trọng của thống kê xác suất trong cuộc sống. Các game học toán thống kê xác suất lớp 6 có thể giúp học sinh tiếp cận kiến thức một cách vui vẻ và hiệu quả hơn.

III. Giải Pháp Ứng Dụng Phần Mềm Dạy Thống Kê Xác Suất 59 ký tự

Để giải quyết những thách thức trên, việc ứng dụng các phần mềm dạy học là một giải pháp hiệu quả. Sử dụng các phần mềm chuyên dụng như Google Forms, Microsoft PowerPoint, Piliapp và Microsoft Excel để thiết kế bài giảng, tổ chức các hoạt động thực hành và đánh giá kết quả học tập. Google Form hỗ trợ việc thu thập và phân tích dữ liệu một cách nhanh chóng và hiệu quả. Microsoft PowerPoint giúp tạo ra các bài giảng trực quan sinh động với hình ảnh, âm thanh và hiệu ứng hấp dẫn. Piliapp cung cấp các công cụ mô phỏng thí nghiệm ngẫu nhiên, giúp học sinh hình dung và hiểu rõ hơn các khái niệm xác suất. Microsoft Excel hỗ trợ việc xử lý và phân tích dữ liệu thống kê, giúp học sinh rèn luyện kỹ năng tính toán và biểu diễn dữ liệu. Thông qua việc sử dụng các phần mềm dạy học, giáo viên có thể tạo ra môi trường học tập tương tác, khuyến khích học sinh tham gia tích cực vào quá trình khám phá và xây dựng kiến thức. Học sinh có thể tự thu thập, phân tích và biểu diễn dữ liệu, từ đó phát triển tư duy phản biện, kỹ năng giải quyết vấn đề và khả năng ứng dụng kiến thức vào thực tế. Nghiên cứu của Mai Thị Hải Yến (2023) cho thấy việc sử dụng phần mềm dạy học thống kê xác suất giúp tăng cường sự hứng thú và hiệu quả học tập của học sinh lớp 6.

3.1. Sử dụng Google Forms cho thu thập và phân tích dữ liệu

Google Forms là một công cụ mạnh mẽ và dễ sử dụng để thu thập và phân tích dữ liệu. Giáo viên có thể tạo ra các phiếu khảo sát trực tuyến để thu thập thông tin từ học sinh, sau đó sử dụng các tính năng phân tích của Google Forms để tổng hợp và trình bày dữ liệu một cách trực quan. Điều này giúp học sinh làm quen với việc thu thập và xử lý dữ liệu thực tế, đồng thời rèn luyện kỹ năng sử dụng công cụ dạy học trực tuyến thống kê xác suất lớp 6.

3.2. Thiết kế bài giảng sinh động với Microsoft PowerPoint

Microsoft PowerPoint là một công cụ quen thuộc và hiệu quả để tạo ra các bài giảng trực quan sinh động. Giáo viên có thể sử dụng PowerPoint để trình bày các khái niệm thống kê xác suất một cách rõ ràng và hấp dẫn, đồng thời sử dụng hình ảnh, âm thanh và hiệu ứng để tăng tính tương tác và hứng thú cho học sinh. Theo [Mai Thị Hải Yến, 2023] giáo viên có thể sử dụng PowerPoint để trình bày các khái niệm thống kê xác suất một cách rõ ràng và hấp dẫn

3.3. Mô phỏng thí nghiệm với Piliapp và xử lý dữ liệu bằng Excel

Piliapp là một phần mềm mô phỏng thí nghiệm ngẫu nhiên, giúp học sinh hình dung và hiểu rõ hơn các khái niệm xác suất. Giáo viên có thể sử dụng Piliapp để tạo ra các trò chơi và thí nghiệm thú vị, sau đó sử dụng Microsoft Excel để xử lý và phân tích dữ liệu thu được. Điều này giúp học sinh rèn luyện kỹ năng tính toán và biểu diễn dữ liệu, đồng thời phát triển tư duy phản biện và kỹ năng giải quyết vấn đề. Theo Mai Thị Hải Yến , phần mềm piliapp giúp học sinh hình dung và hiểu rõ hơn các khái niệm xác suất.

IV. Ứng Dụng Phần Mềm Vào Bài Tập Thống Kê Xác Suất 57 ký tự

Ứng dụng phần mềm dạy học một cách sáng tạo và linh hoạt để giải quyết các bài tập cụ thể trong chương trình thống kê xác suất lớp 6. Ví dụ, giáo viên có thể sử dụng Google Forms để thu thập dữ liệu về sở thích của học sinh trong lớp, sau đó sử dụng Microsoft Excel để phân tích dữ liệu và vẽ biểu đồ cột thể hiện kết quả. Hoặc giáo viên có thể sử dụng Piliapp để mô phỏng trò chơi tung đồng xu, sau đó sử dụng Excel để tính xác suất thực nghiệm của các sự kiện. Thông qua việc ứng dụng phần mềm vào giải quyết các bài tập thực tế, học sinh sẽ thấy được ý nghĩa và tầm quan trọng của thống kê xác suất trong cuộc sống, từ đó tăng cường sự hứng thú và động lực học tập. Mai Thị Hải Yến chỉ ra có thể sử dụng Excel để tính xác suất thực nghiệm của các sự kiện. Đây là một minh chứng cụ thể cho sự hiệu quả của ứng dụng phần mềm trong dạy thống kê xác suất.

4.1. Bài tập thu thập và phân tích dữ liệu về sở thích

Sử dụng Google Forms để tạo ra một phiếu khảo sát trực tuyến về sở thích của học sinh trong lớp (ví dụ: môn thể thao yêu thích, loại nhạc yêu thích, món ăn yêu thích). Sau khi thu thập dữ liệu, sử dụng Microsoft Excel để phân tích dữ liệu và vẽ biểu đồ cột thể hiện kết quả. Yêu cầu học sinh đưa ra những nhận xét và kết luận dựa trên biểu đồ. Học sinh có thể thực hành thêm các dạng bài tập thống kê xác suất lớp 6 khác.

4.2. Bài tập mô phỏng trò chơi tung đồng xu và tính xác suất

Sử dụng Piliapp để mô phỏng trò chơi tung đồng xu nhiều lần. Ghi lại kết quả của mỗi lần tung (mặt sấp hoặc mặt ngửa). Sử dụng Microsoft Excel để tính xác suất thực nghiệm của các sự kiện (ví dụ: xác suất xuất hiện mặt sấp, xác suất xuất hiện mặt ngửa). So sánh kết quả thực nghiệm với xác suất lý thuyết. Học sinh có thể tìm hiểu thêm về kinh nghiệm dạy thống kê xác suất lớp 6.

4.3. Bài tập về khảo sát học sinh mắc tật khúc xạ

Giáo viên sử dụng phần mềm tạo biểu đồ thống kê online để xây dựng biểu đồ dựa trên thông tin khảo sát học sinh mắc tật khúc xạ trong lớp 6A2. Sau đó giáo viên hướng dẫn học sinh khai thác và làm các bài tập liên quan đến ứng dụng dạy thống kê xác suất toán 6. Đây là bài tập mang tính thực tế và có tính ứng dụng cao.

V. Kết Quả Thực Nghiệm và Đánh Giá Hiệu Quả Phần Mềm 60 ký tự

Để đánh giá hiệu quả của việc ứng dụng các phần mềm dạy học, tác giả đã tiến hành thực nghiệm sư phạm tại trường THCS Thanh Xuân Nam. Kết quả cho thấy, học sinh ở lớp thực nghiệm (được dạy bằng phương pháp sử dụng phần mềm dạy học) có mức độ hứng thú và hiểu bài cao hơn so với học sinh ở lớp đối chứng (được dạy bằng phương pháp truyền thống). Điểm trung bình bài kiểm tra của lớp thực nghiệm cũng cao hơn so với lớp đối chứng. Kết quả này cho thấy việc ứng dụng phần mềm dạy học trong chủ đề thống kê xác suất môn toán lớp 6 là một giải pháp hiệu quả để nâng cao chất lượng dạy và học.

5.1. So sánh mức độ hứng thú và hiểu bài giữa hai lớp

Mức độ hứng thú học tập của lớp thực nghiệm được đánh giá cao hơn so với lớp đối chứng. Học sinh ở lớp thực nghiệm tham gia tích cực hơn vào các hoạt động học tập, chủ động khám phá kiến thức và tự tin trình bày ý kiến của mình. Mức độ hiểu bài của lớp thực nghiệm cũng cao hơn so với lớp đối chứng. Học sinh ở lớp thực nghiệm nắm vững kiến thức và kỹ năng cơ bản, có khả năng vận dụng kiến thức vào giải quyết các bài tập thực tế. Mai Thị Hải Yến đã khẳng định tầm quan trọng của phương pháp dạy thống kê xác suất lớp 6 hiệu quả.

5.2. So sánh kết quả bài kiểm tra giữa hai lớp

Điểm trung bình bài kiểm tra của lớp thực nghiệm cao hơn so với lớp đối chứng. Số lượng học sinh đạt điểm khá giỏi ở lớp thực nghiệm nhiều hơn so với lớp đối chứng. Điều này cho thấy việc ứng dụng phần mềm dạy học giúp học sinh nắm vững kiến thức và kỹ năng một cách toàn diện, từ đó đạt kết quả cao hơn trong học tập.

VI. Kết Luận và Hướng Phát Triển Ứng Dụng Dạy Toán Lớp 6 60 ký tự

Việc ứng dụng phần mềm dạy học trong chủ đề thống kê xác suất môn toán lớp 6 là một hướng đi đúng đắn và cần được khuyến khích. Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các phần mềm dạy học tiên tiến hơn, đồng thời tăng cường đào tạo giáo viên về kỹ năng sử dụng CNTT để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Nghiên cứu thêm về các mẹo dạy thống kê xác suất lớp 6 để tối ưu hóa quá trình giảng dạy. Việc ứng dụng CNTT không chỉ giúp nâng cao chất lượng dạy và học, mà còn giúp học sinh phát triển các kỹ năng cần thiết để thành công trong thế kỷ 21. Kết quả này trùng khớp với nghiên cứu của Mai Thị Hải Yến.

6.1. Đề xuất và khuyến nghị cho giáo viên

Giáo viên cần chủ động tìm hiểu và sử dụng các phần mềm dạy học phù hợp với nội dung bài giảng và trình độ của học sinh. Cần tạo ra môi trường học tập tương tác, khuyến khích học sinh tham gia tích cực vào quá trình khám phá và xây dựng kiến thức. Mai Thị Hải Yến (2023) đã đề xuất giáo viên nên chủ động tìm hiểu ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy toán lớp 6.

6.2. Hướng phát triển trong tương lai

Nghiên cứu và phát triển các phần mềm dạy học tiên tiến hơn, tích hợp các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI) và thực tế ảo (VR). Xây dựng các nguồn học liệu số phong phú và đa dạng, đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh. Đầu tư trang thiết bị và cơ sở vật chất CNTT cho các trường học. Đẩy mạnh hợp tác giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong việc ứng dụng CNTT vào giáo dục.

11/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC VÀ DẠY HỌC THỐNG KÊ VÀ XÁC SUẤT 1. Khái quát về vai trò và tình hình ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học 1. Vai trò của ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Việc ứng dụng CNTT trong các hoạt động sản xuất nói chung là hết sức cần thiết và lĩnh vực giáo dục nói riêng luôn là một điều tất yếu, là điều kiện cho sự đổi mới, sự phát triển, đảm bảo cho nguồn lực chất lượng cao cho quá trình hội nhập. Thực tế, CNTT đã đi vào lĩnh vực giáo dục như một quy luật tự nhiên, với mục đích phát triển toàn diện nền giáo dục.

CNTT đã phần nào khẳng định được hiệu quả đối với hoạt động quản lý giáo dục, hoạt động dạy và học, là công cụ đắc lực hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập và quản lý, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng giáo dục. CNTT là công cụ, phương tiện hiệu quả góp phần xây dựng "xã hội học tập". Mặt khác, giáo dục và đào tạo đóng vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển của CNTT thông qua việc cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho lĩnh vực CNTT. Theo [10], trong môi trường giáo dục được ứng dụng CNTT, người học phát huy được tối đa các kỹ năng về nhìn, nghe, nói, đọc, viết vốn là bản năng của con người.

Nét đặc trưng của các phương pháp dạy học truyền thống xem giáo viên là trung tâm, đóng vai trò chủ động, người học là thụ động. Trong môi trường mới này, người học được xem là trung tâm, giáo viên trở thành người thúc đẩy, hướng dẫn. Giáo viên đóng vai trò là người cố vấn, giúp đỡ người học tự tìm kiếm để nghiên cứu, tự biến đổi thông tin thành tri thức, thành kỹ năng. Trong môi trường CNTT, kiến thức được tạo dựng một cách tích cực bởi cá nhân người học.

Sự đa dạng của các nguồn thông tin có sẵn tạo ra các cơ hội học tập, tự hướng dẫn cho người học, độc lập với những thông tin được dạy trực tiếp từ giáo viên. Sự hòa nhập giữa CNTT và truyền thông dẫn tới hình 9 thành mạng máy tính, đặc biệt là Internet cung cấp những kho thông tin, kiến thức khổng lồ, tạo điều kiện để con người trên toàn thế giới có thể kết nối với nhau, không bị giới hạn bởi thời gian và không gian. Hơn nữa, giao tiếp người – máy ngày càng được hoàn thiện làm cho CNTT ngày càng thân thiện, dễ tiếp cận và sử dụng. Cũng theo [10], trong quá trình học tập, người học lĩnh hội tri thức mới từ nhiều nguồn khác nhau: lời giảng của giáo viên, nội dung SGK và các tài liệu học tập khác, môi trường gia đình và xã hội… Sử dụng các kỹ thuật tương tác đa phương tiện theo các yêu cầu trực quan, sinh động, đa chiều, đa kênh, đa dạng, đa chức năng, kích hoạt được quá trình học tập.

Đa phương tiện có vai trò to lớn huy động những tiềm năng, năng lực khác nhau của người học trong hoạt động vật chất và hoạt động tâm lý. Một số vai trò quan trọng mà việc ứng dụng CNTT (sử dụng máy tính và phần mềm dạy học) mang lại trong việc đổi mới giáo dục, đó là: - Học mọi lúc, mọi nơi - Linh hoạt, thích ứng cho mọi cá nhân, cho người học giỏi cũng như cho người học cá biệt. Người học chủ động tương tác với chương trình, kiến thức thông qua việc hội thoại, sử dụng phần mềm. - Người học có thể học tất cả các loại kiến thức, kỹ năng cần có theo yêu cầu mà trên lớp học truyền thống khó có thể đáp ứng được.

- Giao tiếp với CNTT đa phương tiện: hình ảnh đẹp, âm thanh sống động, phim, đồ họa và văn bản được kết hợp với nhau thành một chính thể rất hấp dẫn đối với người học, điều này có tác dụng kích thích hứng thú mạnh mẽ trong học tập. - Người học có thể tra cứu thông tin nhanh và rộng lớn. - Người học có khả năng trao đổi kiến thức với bạn học hoặc giáo viên không hạn chế không gian và thời gian. - Giảm chi phí học tập vì không nhất thiết người học phải học tập trung.

10 Với việc giáo viên sử dụng phần mềm dạy học trong việc giảng dạy, kiến thức đưa đến học sinh được thể hiện bằng hình ảnh, âm thanh, màu sắc, phim ảnh và kiến tạo môi trường tác động đến nhiều giác quan của người học. Việc sử dụng các phần mềm hỗ trợ dạy học giúp cho giáo viên có điều kiện tốt trong đổi mới phương pháp dạy học mà nếu sử dụng các phương tiện truyền thống khó có thể thực hiện được. Các phần mềm có thể giúp mô phỏng nhiều quá trình, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội; không thể hoặc khó có thể thể hiện từ những phương tiện khác. Với môi trường đa phương tiện được trình bày bằng máy tính theo kịch bản định sẵn nhằm đạt hiệu quả tối đa trong môi trường học tập đa giác quan, với những ngân hàng dữ liệu, kiến thức khổng lồ và đa dạng kết nối với nhau và với người sử dụng qua những mạng máy tính hoặc qua Internet, tạo ra những điều kiện hết sức thuận lợi để người học học tập tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo.

Hơn nữa, điều này còn giúp cho người học phát huy được tính năng động, sáng tạo qua việc được cập nhật những thành tựu của nền kinh tế tri thức mà giáo viên đang cố gắng để định hướng cho người học [10]. Như vậy, việc ứng dụng CNTT trong dạy học góp phần đa dạng nguồn tiếp cận thông tin, giúp đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học. Ứng dụng CNTT tạo điều kiện, là cơ sở để thực hiện được khẩu hiệu do UNESCO đề ra cho Giáo dục – đào tạo ở thế kỷ 21 là “Học ở mọi nơi, học ở mọi lúc, học suốt đời, dạy cho mọi người với mọi trình độ tiếp thu khác nhau”. Tình hình ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học 1.

Tình hình ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học trên thế giới Trên thế giới, các nước có nền giáo dục phát triển đều chú trọng đến việc ứng dụng CNTT như: Mỹ, Nhật Bản, Anh, Singapore, Trung Quốc… Để ứng dụng CNTT được phổ biến và phát triển như ngày nay, các nước này đã trải qua rất nhiều chương trình quốc gia về tin học hoá cũng như ứng dụng CNTT vào các lĩnh vực khoa học kĩ thuật và trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, 11 đặc biệt là ứng dụng vào khoa học công nghệ và giáo dục. Với các quốc gia phát triển, đây là vấn đề then chốt để phát triển nền kinh tế tri thức, hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới. Máy tính điện tử được phát minh tại Mỹ và đây cũng là quốc gia đi đầu trong việc ứng dụng công nghệ, máy vi tính vào trường học. Ngay từ năm 1965, Mỹ đã ban hành đạo luật về giáo dục phổ thông, đưa máy tính vào sử dụng trong nhà trường [2].

Đến năm 1984 có 31 bang ở Mỹ sử dụng 13.000 máy vi tính trong nhà trường, với khoảng 40% các trường tiểu học và 70% các trường THCS sử dụng máy tính [2]. Giai đoạn này các hãng ở Mỹ như Intel, Apple đã bắt đầu phát triển các phần mềm, chương trình dạy học, trò chơi học tập… [2]. Bắt đầu từ năm 2000, 99% các trường học tại Mỹ được kết nối Internet và nhà nước quan tâm rất nhiều đến hệ thống dạy học có sự trợ giúp của máy tính (CAI) [2]. Ngày nay, Mỹ vẫn là một trong những quốc gia đi đầu trong việc ứng dụng CNTT trong trường học, sử dụng máy tính, thiết bị di động, kính thực tế ảo, học liệu số… Theo báo điện tử The Japan Times đưa tin [21], Ở Nhật Bản, mỗi học sinh tiểu học hoặc trung học cơ sở được cung cấp một thiết bị máy tính để học.

Và hiện tại, sách giáo khoa kỹ thuật số được sử dụng thử nghiệm cho môn tiếng Anh ở hầu hết các trường tiểu học và trung học cơ sở công lập, và cho một môn học khác, chủ yếu là toán, ở khoảng 70% số trường. Bộ Giáo dục Nhật Bản có kế hoạch bắt đầu sử dụng toàn bộ sách giáo khoa kỹ thuật số từ năm tài chính 2024, triển khai chúng đầu tiên trong các lớp học tiếng Anh dành cho học sinh lớp 5, lớp 6 và học sinh trung học cơ sở. Đối với tiếng Anh, sách điện tử có chức năng chuyển văn bản thành giọng nói được kỳ vọng sẽ phát huy hiệu quả trong việc học cách phát âm từ và cải thiện kỹ năng nghe. Đối với môn toán, những sách giáo khoa như vậy được kỳ vọng sẽ giúp học sinh xem đồ thị và sơ đồ dễ dàng hơn.

12 Chính phủ Singapore phân phát máy tính xách tay hoặc máy tính bảng cho học sinh trung học để học tập và tiếp cận công nghệ giáo dục [22]. Các trường phổ thông và Bộ Giáo dục Singapore xây dựng hệ thống quản lý học tập trực tuyến và thư viện điện tử. Học sinh tải xuống các tài liệu học, làm bài tập hoặc nộp bài tập lên hệ thống, theo dõi kết quả thi và các thông tin giáo dục khác qua hệ thống. Tài liệu học tập được giáo viên chuyển sang dạng sách điện tử, sách nói, hình ảnh, video.

nên học sinh có thể dễ dàng truy cập thông qua Internet và đọc chúng từ các thiết bị công nghệ. Nhiều công nghệ tiên tiến khác được ứng dụng như: kính thực tế ảo (VR) để xem video 360 độ trong giờ học Địa lý [19]; Công nghệ trợ lý ảo ở môn Tiếng Anh sẽ sửa lỗi chính tả, ngữ pháp cho học sinh thay giáo viên…. Sử dụng thiết bị công nghệ trong trường học cũng là mục tiêu của Trung Quốc nhằm giúp học sinh nước này làm quen với công nghệ và kỹ thuật số từ nhỏ. Một trong những thiết bị công nghệ tân tiến được nước này đưa vào trường học là robot ứng dụng trí tuệ nhân tạo [19].

Năm 2018, hơn 600 trường mẫu giáo tại Trung Quốc sử dụng robot giáo dục Keeko. Với thiết kế cao 60 cm, có bánh xe nhỏ và màn hình lớn, robot có thể hỗ trợ giáo viên mầm non chăm sóc trẻ em bằng cách kể chuyện, hát. Khi trẻ hoàn thành nhiệm vụ, robot sẽ chớp mắt và hiển thị hình trái tim trên màn hình thay lời cổ vũ và khen ngợi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ