CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Rủi ro thị trường và phân loại rủi ro thị trường 1. Khái niệm chung về rủi ro Như chúng ta đã biết, trong mọi hoạt động kinh tế thì kết quả là điều chúng ta không thể chắc chắn hoàn toàn. Và điều đó đã đặt ra một vấn đề đối với các chủ thể kinh tế, các nhà quản lý là làm thế nào để hoạt động cho hiệu quả, để hạn chế mức thấp nhất các khả năng xấu hay còn gọi là rủi ro có thể xảy ra.
Rủi ro là một vấn đề trừu tượng và có tính tương đối cao, rủi ro của người này có thể là may mắn với người khác và ngược lại. Do vậy, có nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro trên nhiều phương diện góc nhìn khác nhau, qua nghiên cứu đọc các tài liệu thì em xin đề cập đến định nghĩa có thể coi là đúng nhất với quan điểm hiện đại: Rủi ro được định nghĩa là sự thay đổi trong các kết quả có thể xảy ra trong một khoảng thời gian xác định. Nếu chỉ có một kết quả có thể xảy ra, thì rủi ro bằng không. Nếu nhiều kết quả có thể xảy ra thì rủi ro không phải là không có.
Rủi ro thị trường Trên thực tế có nhiều nghiên cứu khác nhau chỉ ra khái niệm về rủi ro thị trường, một số ví dụ như sau: Theo Điều 1, Thông tư 40/2018/TT-NHNN thì rủi ro thị trường là rủi ro do biến động bất lợi của lãi suất, tỷ giá, giá vàng, giá chứng khoán và giá hàng hóa trên thị trường. Rủi ro thị trường có thể được định nghĩa là rủi ro thua lỗ ở các trạng thái nội bảng và ngoại bảng phát sinh từ những biến động bất lợi của giá cả thị trường. Các yếu tố cấu thành chính của rủi ro thị trường là: Rủi ro liên quan đến các công cụ liên quan đến lãi suất; Rủi ro ngoại hối (bao gồm cả trạng thái vàng) trong toàn ngân hàng; và những rủi ro liên quan đến đầu tư vào cổ phiếu và hàng hóa (Adhikari, R. Rủi ro thị trường là rủi ro phát sinh từ biến động của lãi suất, tỷ giá hối đoái và giá của các công cụ trên thị trường tiền tệ và thị trường vốn có ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập và vốn của tổ chức tài chính.
Rủi ro thị trường có thể phân thành 3 loại là rủi ro lãi suất rủi ro tỷ giá, rủi ro ngoại hối và rủi ro giá cả. Nghiên cứu của Trần Anh Thiết (2013) cho rằng rủi ro thị trường là loại rủi ro xảy ra trong kinh doanh của ngân hàng thương mại do những biến động về giá cả thị trường và/hoặc các thông số thị trường. Các thông số chính bao gồm: giá cổ phần, đường cong lợi suất, tỷ giá hối Nguyễn Hoàng Dương 5 2023 đoái, độ biến động giá và các hệ số tương quan. Hoàng Xuân Phong (2014) cho rằng rủi ro thị trường là khả năng xảy ra mất mát đối với ngân hàng do sự thay đổi của các yếu tố thị trường.
Đó là rủi ro mà giá trị của các trạng thái nội bảng hoặc ngoại bảng cân đối kế toán chịu ảnh hưởng bất lợi bởi những biến động trong thị trường chứng khoán, lãi suất, tỷ giá hối đoái hay giá cả hàng hóa, hay là rủi ro đối với thu nhập và vốn của ngân hàng do sự thay đổi trên thị trường về lãi suất về giá chứng khoán, tỷ giá, giá cả hàng hóa. Nhìn chung, rủi ro thị trường là loại rủi ro tác động tới toàn bộ nền kinh tế hoặc phân khúc thị trường chứng khoán. Loại rủi ro này chịu tác động của các điều kiện kinh tế như lạm phát, sự thay đổi tỷ giá hối đoái, lãi suất ., đó là các yếu tố nằm ngoài công ty, các yếu tố mà doanh nghiệp không thể kiểm soát được và nó sẽ ảnh hưởng đến tất cả các công ty bất kể tình trạng tài chính hoặc quản lý của công ty. Phân loại rủi ro thị trường Trước khi các nhà quản trị đo lường được rủi ro, họ cần phải nhận diện được tất cả rủi ro mà doanh nghiệp có thể phải đối mặt.
Rủi ro thị trường đối với doanh nghiệp có thể bao gồm rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá, rủi ro lạm phát, rủi ro biến động giá cả hàng hóa. Rủi ro về lãi suất (Interest risk): là rủi ro thu nhập hoặc vốn có thể bị ảnh hưởng tiêu cực từ những thay đổi về lãi suất của tài sản, nợ và các khoản mục ngoại bảng, tất cả đều là những khoản mục nhạy cảm với lãi suất. Nó cũng có thể ảnh hưởng đến thu nhập lãi ròng, giá trị thị trường của tài khoản giao dịch, thu nhập và các chi phí khác liên quan đến lãi suất như phí cho vay, phí dịch vụ tiền gửi và chi phí dự phòng,… Rủi ro về tỷ giá hối đoái (Foreign exchange rate risk): một định nghĩa chung về rủi ro tỷ giá hối đoái liên quan đến tác động của những thay đổi tỷ giá hối đoái bất ngờ đối với giá trị của công ty (Madura, 1989). Cụ thể, nó được định nghĩa là tổn thất trực tiếp có thể xảy ra (do rủi ro không được bảo vệ) hoặc tổn thất gián tiếp đối với dòng tiền, tài sản và nợ phải trả, lợi nhuận ròng và giá trị thị trường chứng khoán của công ty do thay đổi tỷ giá hối đoái.
Để quản lý rủi ro tỷ giá hối đoái vốn có trong hoạt động của các công ty đa quốc gia, một công ty cần xác định loại rủi ro cụ thể hiện tại, Nguyễn Hoàng Dương 6 2023 chiến lược phòng ngừa rủi ro và các công cụ sẵn có để đối phó với những rủi ro tiền tệ này. Rủi ro lạm phát (Inflation risk): là rủi ro mà giá trị thực trong tương lai (sau khi lạm phát) của một khoản đầu tư, tài sản hoặc dòng thu nhập sẽ bị giảm do lạm phát không lường trước được. Rủi ro lạm phát là rủi ro mà lạm phát sẽ làm suy giảm lợi nhuận của một khoản đầu tư thông qua sự suy giảm sức mua. Các khoản thanh toán trái phiếu có rủi ro lạm phát cao nhất vì các khoản thanh toán của họ thường dựa trên lãi suất cố định, nghĩa là lạm phát gia tăng làm giảm sức mua của họ.
Rủi ro biến động giá cả hàng hóa (Commodity Price Risk): là rủi ro tài chính đối với hiệu quả tài chính/ khả năng sinh lời của một đơn vị do sự biến động về giá của hàng hóa nằm ngoài tầm kiểm soát của đơn vị do chúng chủ yếu chịu tác động của các lực lượng thị trường bên ngoài. Những biến động mạnh về giá cả hàng hóa đang tạo ra những thách thức kinh doanh đáng kể có thể ảnh hưởng đến chi phí sản xuất, giá cả sản phẩm, thu nhập và tính khả dụng của tín dụng. Sự biến động về giá này khiến một thực thể bắt buộc phải quản lý tác động của biến động giá cả hàng hóa trong chuỗi giá trị của mình để quản lý hiệu quả hoạt động tài chính và lợi nhuận của mình. Cơ sở lý thuyết về mô hình giá trị rủi ro VaR Kiểm soát rủi ro là quá trình phức tạp và để quản lý rủi ro một cách hiệu quả lại càng phức tạp hơn.
Chính vì lý do đó, việc sáng tạo và phát triển ra các phương pháp đánh giá rủi ro, đặc biệt là sau bối cảnh các cuộc suy thoái là nhu cầu cấp thiết với các tổ chức tài chính nói riêng và cộng đồng doanh nghiệp nói chung. Phương pháp giá trị rủi ro VaR đã được ra đời nhằm mục đích trên. Lịch sử ra đời của mô hình giá trị rủi ro VaR Những nghiên cứu ban đầu về VaR thuộc về Markowitz (1952) và Roy (1952). Hai công bố độc lập về các thước đo VaR này giống nhau một cách đáng ngạc nhiên.
Mục đích của họ là để tối ưu hóa lợi nhuận danh mục đầu tư ở một mức độ rủi ro nhất định. Về mặt toán học, Markowitz và Roy đã trình bày các phép tính VaR tương tự nhau, mặc dù chúng hỗ trợ các phần khác nhau. Markowitz tập trung vào phương sai, trong khi Roy giữ quan điểm lịch sử với các ước tính về hiệp phương sai từ quá khứ. Nguyễn Hoàng Dương 7 2023 Với mục đích này, mỗi biện pháp VaR được đề xuất kết hợp các hiệp phương sai giữa các yếu tố rủi ro để phản ánh tác động phòng ngừa rủi ro và đa dạng hóa.
Trong những năm đầu thập niên 80, thị trường chứng khoán và các ngân hàng thương mại trên thế giới được mở rộng và phát triển mạnh mẽ. Các công ty ngày càng trở nên sử dụng nhiều đòn bẩy hơn và nhu cầu về các biện pháp đo lường rủi ro tài chính, chẳng hạn như VaR, ngày càng tăng. Các nguồn lực để thực hiện VaR đã có sẵn, nhưng VaR chủ yếu vẫn là một công cụ lý thuyết của lý thuyết danh mục đầu tư. Các công ty cần một số cách để đo lường rủi ro thị trường trên các loại tài sản khác nhau, nhưng không nhận ra cách VaR có thể đáp ứng nhu cầu này.
Ủy ban Chứng khoán và Ngoại hối liên bang Hoa Kỳ (SEC - Securities and Exchange Commission) đã thông qua VaR để ràng buộc yêu cầu về vốn tối thiểu của các công ty tài chính để phù hợp với các khoản lỗ có thể phát sinh. Trong thời gian này, ngân hàng “Bank Trust” đã triển khai sử dụng VaR cho hệ thống phân bổ vốn đầu tư (RAROC - Risk- Adjusted Return on Capital). Vào cuối những năm 1990, Ủy ban Chứng khoán yêu cầu các công ty phải báo cáo định lượng rủi ro thị trường trong báo cáo tài chính của họ nhằm cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư tài chính, và VaR là công cụ được lựa chọn. Năm 1996, sự phát triển của VaR, cũng như những công dụng của VaR đã chính thức được ghi nhận bằng sự kiện Ủy ban Basel cho phép các ngân hàng tự tính toán các yêu cầu vốn cho mình trên cơ sở sử dụng các mô hình VaR nội bộ.
Khái niệm về VaR Linsmeier và Pearson (1996) mô tả VaR là “một thước đo thống kê duy nhất về các tổn thất danh mục đầu tư có thể xảy ra”. VaR đo lường những tổn thất tiềm năng xảy ra tùy thuộc vào sự biến động trên thị trường. Penza và Bansal (2001), nhận thấy điều tương tự như Linsmeier và Pearson (1996), rằng tổn thất lớn hơn VaR tính toán chỉ xảy ra với một xác suất nhỏ. Khi đo lường VaR, trọng tâm nằm ở các khoản lỗ tiềm ẩn trong tương lai, chứ không phải lợi nhuận.