Chương 1 16 hoặc phân biệt đối xử theo kiểu bỏ rơi nhà đầu tư nhỏ ở các sàn, trung tâm và công ty chứng khoán. Khớp lệnh liên tục là giao dịch trên cơ sở khớp liên tục các lệnh mua – bán chứng khoán ngay khi lệnh được nhập vào hệ thống giao dịch, không phải chờ đến thời điểm định kỳ như kiểu khớp lệnh định kỳ. Trong nguyên tắc xử lý khớp lệnh liên tục này thì quyền ưu tiên luôn dành cho các lệnh mua có mức giá cao hơn và các lệnh bán có mức giá thấp hơn. Trường hợp các lệnh mua và bán có đồng mức giá thì quyền ưu tiên sẽ dành cho lệnh nhập vào hệ thống giao dịch trước.
Việc tổ chức khớp lệnh liên tục cho phép các nhà đầu tư đặt lệnh thận trọng, chính xác hơn, được giải quyết nhu cầu mua – bán nhiều hơn, nhanh chóng, bình đẳng hơn và giảm thiểu tình trạng cung – cầu ảo trên thị trường chứng khoán. Ngoài những ưu điểm trên, việc khớp lệnh liên tục có thể gây rủi ro cho nhà đầu tư vì lệnh mua – bán của họ bị nhập vào hệ thống chậm hơn so với các nhà đầu tư khác có lệnh tương tự nếu lệnh đang có trong hệ thống chưa thực hiện được hoặc chưa khớp hết các lệnh đã đặt, hoặc rủi ro vì họ buộc phải mua – bán bằng hết các chứng khoán đã đặt lệnh theo mức giá thị trường thời điểm hiện hành cao (khi mua vào) hoặc thấp hơn (khi bán ra) so với mức lệnh đã đặt. Trong khớp lệnh liên tục, hiệu lực lệnh của nhà đầu tư trong nước được tính từ khi lệnh được nhập vào hệ thống cho đến khi kết thúc ngày giao dịch, hoặc bị hủy bỏ. Riêng đối với nhà đầu tư nước ngoài, nếu lệnh mua nhập vào hệ thống không được khớp, hoặc chỉ được khớp một phần vào thời điểm thì sẽ bị hủy, sau đó nhà đầu tư muốn mua thì phải tiếp tục đặt lệnh trở lại.
Trong phương thức khớp lệnh định kỳ, NĐT có thể may mắn dù đặt mua cao hay bán thấp, nhưng vẫn được hệ thống khớp với giá tốt. Trong phương thức khớp lệnh liên tục, giao dịch được thực hiện trên cơ sở so sánh các lệnh mua và bán ngay khi được nhập vào hệ thống và tự động khớp ngay với các lệnh đối ứng có mức giá thỏa mãn tốt nhất đã chờ sẵn. Do vậy, NĐT đặt lệnh kiểu mua trần, bán sàn có thể bị thiệt lớn nếu xuất hiện lệnh đối ứng được nạp vào đúng lúc. Ngoài ra, khi khớp lệnh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương 1 17 liên tục, NĐT phải liên tục "bám sàn" để phản ứng nhanh hủy lệnh nếu thấy chiều hướng giá bất lợi.
Ví dụ về khớp lệnh liên tục: KL Mua (cp) Giá mua (VNĐ) Giá bán (VNĐ) KL Bán 1000 (A) 80.000 • Nếu lệnh C được nhập vào trước sau đó đến lệnh B và lệnh A thì chỉ có 1 mức giá khớp 78.000đ với khối lượng khớp 2. • Nếu trình tự các lệnh nhập vào hệ thống là A, B, C thì giá khớp sẽ là 80.000đ với khối lượng khớp 1.000 CP tại mỗi mức giá. • Nếu trình tự các lệnh nhập vào hệ thống là A, C, B thì giá khớp sẽ là 80.000đ với khối lượng là 1.000 CP tại mỗi mức giá. • Nếu trình tự các lệnh nhập vào hệ thống là B, C, A thì giá khớp sẽ là 81.000đ với khối lượng là 1.000 CP tại mỗi mức giá.
Các nhà đầu tư nhỏ lẻ trên thị trường chứng khoán còn có thể phải đối diện với các rủi ro gắn với sự điều chỉnh quy định về số lượng giao dịch cổ phiếu thực hiện, cụ thể từ mức 10 cổ phiếu trước đây, đã nâng lên tối thiểu 100 cổ phiếu mỗi lô giao dịch trong quá trình khớp lệnh liên tục ở sàn Hà Nội. Các rủi ro đối với nhà đầu tư nhỏ lẻ sẽ có thể gồm: không thể xé nhỏ các khoản đầu tư như trước, vì đã “bỏ hết trứng vào một giỏ”; không có cơ hội mua các chứng khoán tốt vì chúng chỉ được giao dịch theo lô lớn. Ngoài ra, họ còn phải chịu nhiều cảnh phân biệt đối xử khác khi thụ hưởng các dịch vụ chứng khoán nếu vẫn muốn là người trực tiếp đầu tư, không muốn thông qua các quỹ đầu tư đại chúng, quỹ tín thác và các công ty chứng khoán… 1. Các loại rủi ro không hệ thống Rủi ro về tín dụng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương 1 18 Rủi ro mất vốn là rủi ro cho vay không thu hồi được nợ.
Bản chất của tín dụng Ngân hàng là ứng trước tiền cho DN vay, sau một chu kỳ sản xuất hoặc chu kỳ luân chuyển hàng hóa thì khách hàng mới có tiền trả nợ cho ngân hàng. Nội dung ứng trước của tín dụng càng cao thì rủi ro càng lớn. Cho vay tín chấp có mức độ rủi ro cao hơn cho vay thế chấp. Đây là loại rủi ro lớn nhất cho ngân hàng ngoài các rủi ro như rủi ro sai hẹn, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá vì hơn 2/3 tài sản của Ngân hàng là các món cho vay và đầu tư đem lại thu nhập chủ yếu cho Ngân hàng.
Về phía DN, khi xảy ra rủi ro tín dụng tức là DN đang lâm vào tình trạng kiệt quệ tài chính và làm giảm giá trị DN. Sự việc này sẽ làm giảm giá cổ phiếu và ảnh hưởng đến giá trị danh mục đầu tư của NĐT vây gây tổn thất cho NĐT khi họ mua cổ phiếu của DN. Do vậy, NĐT cần cân nhắc kỹ năng lực kinh doanh, mức độ lợi nhuận, quy mô của DN trước khi tham gia vào các đợt phát hành để không phải chịu cảnh ôm hận khi được mua quá nhiều cổ phiếu với mức cổ tức thấp và thanh khoản ngày càng kém. Năm 2010 có lẽ là năm chứng kiến hoạt động phát hành cổ phiếu để tăng vốn nhiều nhất trong các năm.
Tính đến 20/12/2010, có 305 công ty trên cả 02 sàn (trong số 376 công ty đã đăng ký phát hành trong năm 2010) đã phát hành thành công, với 5.726 triệu cổ phiếu (trong số 8.108 triệu cổ phiếu đã đăng ký phát hành) đã được phát hành ra thị trường. Trong số đó lượng cổ phiếu phát hành có thu tiền (cho cổ đông hiện hữu, cho cán bộ công nhân viên, phát hành riêng lẻ) chiếm khoảng 67%. Đấy là về mặt qui mô, còn về mặt phương thức phát hành thì rất uyển chuyển: khó phát hành đại chúng thì lại chuyển sang phát hành riêng lẻ, khó bán giá cao thì chuyển thành theo mệnh giá, khó thành công thì hủy bỏ hoặc hoãn lại,.Mục đích của đợt phát hành và kế hoạch sử dụng vốn của đợt phát hành còn mang nặng tính đại khái. So với bộ hồ sơ vay vốn ngân hàng và quá trình xét duyệt của nó, thì bộ hồ sơ phát hành cổ phiếu ra công chúng và quá trình xét duyệt cấp phép phát hành quá là dễ dãi, mặc dù khả năng thu nợ của ngân hàng còn được đảm bảo bằng các khoản thế chấp, chứ với cổ đông chỉ có bằng “niềm tin và kỳ vọng” vào ban lãnh đạo công ty phát hành.
Thị trường đã nhận ra điều đó, bằng chứng là sự sụt giảm giá kéo dài của cổ phiếu cho đến trước ngày chốt danh sách cổ đông (đây là điều ngược lại so LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương 1 19 với sự hồ hởi của những năm trước). Theo khảo sát biến động giá cổ phiếu của các công ty đã phát hành thêm cho cổ đông hiện hữu trong năm 2010 của StoxPlus, 40.7% mã bị giảm giá trong vòng 02 tuần trước thời điểm chốt danh sách cổ đông.1: Biến động giá cổ phiếu trước ngày chốt quyền Nguồn: StoxPlus Rủi ro về tính thanh khoản và rủi ro kinh doanh của công ty niêm yết NĐT kinh doanh chứng khoán thường gặp phải rủi ro về thanh khoản khi thị trường có biến động mạnh hoặc do bản thân cổ phiếu không thể mua hoặc bán. Chúng ta đã chứng kiến những phiên giao dịch mà NĐT bán cổ phiếu với giá sàn không ai mua hay chào mua giá trần mà không ai bán. Tính thanh khoản thấp của chứng khoán mà nhà đầu tư đang sở hữu có thể do chứng khoán đó khó và thậm chí không thể bán được hoặc không được phép bán hay chuyển nhượng nhằm thu hồi vốn đầu tư.
Hàng hóa thông thường không thể bán được phần nhiều do: chất lượng và tiện ích của hàng hóa không đáp ứng nhu cầu; không phù hợp với sở thích của người mua; cung vượt quá cầu; có hàng hóa khác thay thế tương đương, thậm chí có sức hấp dẫn hơn. Đối với chứng khoán, tính thanh khoản của nó thấp do một số nguyên nhân sau: Tình trạng tài chính và triển vọng thị trường của công ty, tổ chức phát hành chứng khoán không tốt. Thật không may cho nhà đầu tư chứng khoán, khi vì một lý do nào LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương 1 20 đó, chứng khoán mà họ đã mua là của một công ty, tổ chức có tình trạng tài chính thiếu lành mạnh và triển vọng cung cấp các yếu tố đầu vào, cũng như khả năng tiêu thụ sản phẩm đầu ra của công ty, tổ chức đó không đảm bảo hiệu quả vững chắc. Đó là các rủi ro kinh doanh của công ty niêm yết mà NĐT gặp phải khi đầu tư vào chứng khoán của một công ty nào đó.
Rủi ro kinh doanh cũng có khả năng xảy ra khi DN có nguy cơ phá sản do làm ăn thua lỗ… Ngoài ra, khi tỷ trọng vốn vay cao so với vốn tự có, vốn lưu động tự có ít hơn so với nhu cầu, kết cấu nợ dài hạn và nợ ngắn hạn bất hợp lý cũng dẫn đến rủi ro tài chính cho DN. Rủi ro đối với nhà đầu tư sẽ là tối đa khi công ty, tổ chức phát hành chứng khoán bị phá sản hoặc đơn giản là lặng lẽ biến mất trên thương trường sau những màn tự đánh bóng khá chuyên nghiệp, giật gân nhằm thu hút, dẫn dụ những nhà đầu tư. Trên thị trường chứng khoán hiện nay, vẫn đang tiếp tục diễn ra tình trạng công khai và nô nức đấu giá mua cổ phiếu của cả những công ty trên thực tế đã bị phá sản vì trình trạng tài chính âm, không thể trả nợ, hoặc của những công ty, quỹ đầu tư thậm chí mới có quyết định thành lập, chưa hề triển khai hoạt động trên thực tế… Lựa chọn không đúng cơ cấu chứng khoán đầu tư. Nhà đầu tư chứng khoán có thể chịu rủi ro từ việc “bỏ hết trứng vào một giỏ”.