CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu (BĐKH) là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và làm lệch cả xu hướng của giá trị trung bình và/hoặc dao động của biến đổi khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn. BĐKH là do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất. Trong khí quyển, 78% là khí Nitơ, 21% là khí oxy và 1% là các khí khác.
Biến đổi khí hậu là vấn đề đang được cả thế giới quan tâm. Biến đổi khí hậu đã và đang tác động trực tiếp lên đời sống kinh tế - xã hội và môi trường toàn cầu. Nhiều nơi trên thế giới đã phải chịu nhiều thiên tai nguy hiểm như bão lớn, nắng nóng dữ dội, lũ lụt, hạn hán và khí hậu khắc nghiệt gây thiệt hại nghiêm trọng về tính mạng con người và vật chất. Những nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng nguyên nhân của biến đổi khí hậu chính là các hoạt động của con người tác động lên hệ thống khí hậu làm cho khí hậu biến đổi trong đó có các hoạt động về sản xuất nông nghiệp.
Hiện trạng diễn biến khí hậu trên thế giới Biến đổi khí hậu (BĐKH) đang diễn ra ngày càng nhanh và nhanh hơn dự đoán của con người [23]. BĐKH diễn ra theo một chu trình mà ở đó khí hậu chịu tác động mạnh mẽ của các hoạt động của trái đất, mối quan hệ giữa trái đất với hệ vũ trụ và đặc biệt là tác động của con người. Khi hoạt động của con người tăng, làm tăng phát thải khí nhà kính và làm cho quá trình diễn biến của khí hậu ngày càng nhanh hơn. 6 Biến đổi khí hậu Nhiệt độ thay đổi Lượng mưa thay đổi Nước biển dâng Thời tiết cực đoan Điều khiển khí hậu Tác động và tổn thương Tập trung và phát thải: Hệ sinh thái - Khí nhà kính Nguồn nước - Bụi (Aerosols) An ninh lương thực Định cư và trật tự xã hội Sức khỏe cộng đồng Phát triển kinh tế xã hội - Quản lý vĩ mô - Xóa mù chữ - Sức khỏe cộng đồng - Công bằng xã hội - Công nghệ - Dân số - Phát triển sản xuất và xây dựng - Hoạt động văn hóa xã hội Hình 1.
Ảnh hưởng của BĐKH và các biện pháp ứng phó Quan điểm thống nhất mang tính chất toàn cầu về BĐKH mang tính chu trình tương tác. Phát triển kinh tế xã hội, hoạt động gia tăng của con người là nguyên nhân gây nên phát thải khí nhà kính và tập trung cao độ mật độ bụi không gian, kết hợp với sự vận động của trái đất dẫn đến sự thay đổi về khí hậu. BĐKH gây tổn thương và tác động lên hệ sinh thái, con người và làm ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế xã hội. Chu trình này không diễn ra theo một chiều mà biến đổi càng trầm trọng bao nhiêu thì mức độ tác động và tổn thương càng nghiêm trọng và thiệt hại về kinh tế, xã hội càng lớn [22].
Theo ước tính của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC), nhiệt độ tăng lên làm giảm năng suất cây trồng: ngô giảm từ 5-20% nếu nhiệt độ tăng lên 1,00C, giảm năng suất 60% nếu nhiệt độ tăng lên 40C. Kết quả của Viện nghiên cứu Lúa quốc tế (IRRI) cho thấy, năng suất lúa cũng giảm 10% đối với mỗi 1,00C tăng 7 lên. Nhiệt độ tăng làm gia tăng bốc hơi và nhu cầu nước của cây trồng (theo IPCC nhiệt độ tăng lên 1,00C thì nhu cầu nước tưới sẽ tăng lên 10%). Theo báo cáo đánh giá của IPCC năm 2007, nhiệt độ trung bình trên toàn cầu đã tăng lên khoảng 0,740C trong thời kỳ 1906 – 2005.
Mực nước biển trong thời kỳ 1963 – 2003 đã tăng lên 1,8mm/năm, giai đoạn 1993 – 2003 tăng 3,7 mm/năm. Trong đó, IPCC và các quốc gia trên thế giới đều dự báo rằng mực nước biển tiếp tục tăng trong những thập kỷ tiếp theo [23]. Nhiệt độ tăng lên, làm tăng sự bốc hơi, thoát hơi nước bề mặt dẫn đến thay đổi đột xuất về lượng mưa. Nhiệt độ tăng làm trái đất nóng lên dẫn đến hiện tương băng tan ở hai đầu cực.
Ở Bắc Cực băng tan nhanh dẫn đến nước biển dâng, các hiện tượng thời tiết cực đoan, bất thường. - Về nhiệt độ: Theo các kết quả đánh giá của IPCC trong các báo cáo kỹ thuật 3 và 4 cho thấy nhiệt độ trái đất tăng mạnh ở hầu hết các khu vực trên thế giới. Theo ước tính nhiệt độ toàn cầu tăng 0,740C trong giai đoạn 1906-2005; 1,280C giai đoạn 1956-2005 và được dự báo quá trình này còn tăng hơn nữa. Nhiệt độ thường tăng mạnh vào mùa nóng và có xu hướng giảm vào mùa đông làm tăng tính khắc nghiệt của thời tiết, đặc biệt là tại các vùng khó khăn.
Như vậy, những vùng bị tổn thương và có điều kiện khắc nghiệt BĐKH sẽ ngày càng trầm trọng hơn so với các vùng khác ( Hình 1. Diễn biến của nhiệt độ toàn cầu từ năm 1800-2007 Nguồn: Báo cáo kỹ thuật của IPCC, (2007) 8 - Băng tan và nước biển dâng: Nhiệt độ tăng lên làm cho băng ở vùng Bắc Cực tan nhanh. Theo kết quả nghiên cứu của IPCC cho thấy lượng băng che phủ Bắc cực giảm mạnh, trung bình trên 2,7 % mỗi thập kỷ, riêng mùa hè giảm 7,4%. Nhiều vùng trước đây được che phủ bằng lớp băng dày, nay đã suy giảm do lớp băng tan chảy dần [22].
Diễn biến mực nước biển dâng 1850-2000 (IPCC, 2007) Kết quả này cũng chỉ ra rằng, băng tan làm cho mực nước biển dâng ngày càng cao. Kết quả thống kế của IPCC (2007) và các cơ quan nghiên cứu của Mỹ, Úc cho thấy nước biển toàn cầu dâng trung bình 1.8mm/năm giai đoạn 1961-2003 và 3,1 mm/năm giai đoạn 1993-2003. Nước biển toàn cầu đã dâng 0,31 m trong một thế kỷ gần đây. IPCC và các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam đều dự báo nếu mực nước biển tiếp tục tăng trong những thập kỷ tiếp theo thì nước gần bờ biển sẽ là các quốc gia chịu tác động nặng nề do nước biển dâng, trong đó có Việt Nam.
Hiện trạng diễn biến khí hậu tại Việt Nam Việt Nam là một trong những nước nằm trong khu vực thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai do ảnh hưởng của BĐKH. Các loại thiên tai như: bão, lũ lụt, hạn hán, lốc, rét hại, động đất, sạt lở đất, cháy rừng, xâm nhập mặn, biến đổi bờ biển, ô nhiễm môi trường,… Bảng 1.Phân vùng các loại thiên tai Số TT Vùng thiên tai Các thiên tai cơ bản 1 Vùng núi phía Bắc Lũ quét, lốc, lở đất, động đất, rét hại Lũ, dông, bão, áp thấp nhiệt đới, lốc, nước 2 Vùng đồng bằng sông Hồng dâng, xói lở bờ sông, bờ biển, rét hại; Vùng các tỉnh ven biển Lũ, bão, áp thấp nhiệt đới, lũ quét, hạn, xói 3 miền Trung lở bờ sông, bờ biển Vùng cao nguyên Trung Bộ Lũ, lũ quét, lốc, trượt đất, hạn, xói lở bờ 4 (Tây Nguyên) sông Vùng đồng bằng sông Cửu Lũ, hạn, xâm nhập mặn, xói lở bờ sông, bờ 5 Long biển Biến đổi khí hậu gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đất sử dụng cho nông nghiệp do nước biển dâng, hạn hán, lũ lụt, sạt lở đất, hoang mạc hóa làm mất diện tích đất nông nghiệp; làm thay đổi tính thích hợp của nền sản xuất nông nghiệp với cơ cấu khí hậu, tính phù hợp giữa các tập đoàn cây, con trên các vùng sinh thái đang bị triệt tiêu hoặc mất dần tính thích nghi, phù hợp; làm chậm đi quá trình phát triển nền nông nghiệp hiện đại sản xuất hàng hóa và đa dạng hóa, làm thay đổi nền nông nghiệp cổ truyền. Dưới sự tác động của BĐKH thiên tai ngày càng gia tăng, lũ lụt thường xuyên xảy ra, nước sông dâng lên, đỉnh lũ tăng cao gây khó khăn cho việc tiêu thoát nước, diện tích đất nông nghiệp bị ngập úng, xâm nhiễm mặn ngày một nhiều làm giảm năng suất và giảm chất lượng nông sản. BĐKH được Việt Nam quan tâm nhiều trong những năm gần đây bằng việc Chính phủ cam kết tham gia các công ước quốc tế về BĐKH, hội nghị cao cấp về BĐKH.
Tại Việt Nam, kịch bản về BĐKH và nước biển dâng đã được ban hành, 10 các văn bản hướng dẫn, khung chương trình về thích ứng với BĐKH. Khí hậu là tài nguyên vô giá đối với sản xuất nông nghiệp. Khí hậu là yếu tố quan trọng đối với quá trình sinh trưởng phát triển và hình thành năng suất cây trồng và năng suất thủy sản [15]. Do vậy, bất cứ thay đổi nào về khí hậu đều dẫn đến thay đổi về khả năng sinh trưởng, phát triển và làm thay đổi năng suất.
Hầu hết các nghiên cứu được tổng quan đều cho rằng tác động của BĐKH đối với sản xuất nông nghiệp thể hiện qua các khía cạnh: - Thay đổi năng suất cây trồng dẫn đến an ninh lương thực không được đảm bảo [15]. - Mất đất sản xuất do nhiều vùng bị cạn kiệt nhưng nhiều vùng lại bị ngập lụt, nước biển dâng [23] - Mất cân bằng sinh thái do suy giảm đa dạng sinh học [9] - Gây thiệt hại cơ sở vật chất, hạ tầng thủy lợi do các hiện tượng thời tiết cực đoan và khó dự báo [19] - Các rủi ro và tác động khác,… Ngành Nông nghiệp là ngành chịu tác động lớn nhất của BĐKH so với các ngành khác. Nước ta với địa hình phức tạp, bờ biển dài trong khi các vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm lại tập trung ở các vùng đồng bằng ven các hệ thống sông ngòi và ven biển. Khi nước biển dâng sẽ gây nên hiện tượng xâm lấn mặn, xói mòn rửa trôi, cạn kiệt dinh dưỡng và mất khả năng sản xuất [19].
Tác động của BĐKH làm suy giảm quỹ đất sử dụng cho ngành nông nghiệp do mặn hóa và ngập hóa, làm thay đổi khả năng thích nghi của các đối tượng nông nghiệp với điều kiện thời tiết khí hậu; thiên tai gây ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng; thay đổi điều kiện tưới tiêu. Nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu Nhiều nhà khoa học trên thế giới đưa ra các nguyên nhân khác nhau về sự thay đổi của BĐKH. Nguyên nhân đầu tiên dẫn đến BĐKH là do sự vận động của trái đất nhưng nguyên nhân cuối cùng và đang hiện hữu chính là do hoạt động của con người.