phần mở đầu và ba chương cơ bản. Cụ thể là: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của việc vận dụng biến số xúc tiến hỗn hợp vào thu hút FDI ở một địa phương Chƣơng 2: Thực trạng xúc tiến hỗn hợp nhằm thu FDI của tỉnh Hà Tây Chƣơng 3: Giải pháp tăng cường sử dụng các công cụ xúc tiến hỗn hợp trong việc thu hút FDI vào Hà Tây thời gian tới. 5 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC VẬN DỤNG BIẾN SỐ XÚC TIẾN HỖN HỢP VÀO THU HÚT FDI Ở MỘT ĐỊA PHƢƠNG 1. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA FDI ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐỊA PHƢƠNG 1.
Khái niệm FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là khái niệm khá mới mẻ đối với nền kinh tế Việt Nam. Mỗi tác giả, mỗi tổ chức có một cách tiếp cận riêng nên có nhiều khái niệm về thuật ngữ này: * Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư quốc tế chủ yếu mà chủ đầu tư nước ngoài đầu tư toàn bộ hay phần đủ lớn vốn đầu tư của các dự án nhằm giành quyền điều hành hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ, thương mại. [16] - Hình thức này có đặc điểm: + Chủ đầu tư nước ngoài bỏ vốn để thực hiện các hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi. Hình thức này mang tính khả thi và kết quả kinh tế cao, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế.
+ Chủ đầu tư nước ngoài điều hành toàn bộ mọi hoạt động đầu tư nếu là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp liên doanh tuỳ theo tỷ lệ góp vốn của mình. Đối với nhiều nước trong khu vực, chủ đầu tư chỉ được thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trong một số khu vực nhất định và chỉ được tham gia liên doanh với số vốn cổ phần của bên nước ngoài nhỏ hơn hoặc bằng 49%; 51% còn lại do đối tác nắm giữ. + Thông qua đầu tư nước ngoài, nước chủ nhà có thể tiếp cận công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý,… là những mục tiêu mà các hình thức đầu tư khác không giải quyết được. 6 z + Nguồn vốn đầu tư này không chỉ bao gồm vồn đầu tư ban đầu của chủ đầu tư dưới hình thức vốn pháp định và trong quá trình hoạt động, nó còn bao gồm cả vốn vay của doanh nghiệp để triển khai hoặc mở rộng dự án cũng như vốn đầu tư từ nguồn lợi nhuận thu được.
- Có ba hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu sau: + Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: Là doanh nghiệp do chủ đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn tại nước sở tại, có quyền điều hành toàn bộ doanh nghiệp theo quy định của pháp luật nước sở tại. + Doanh nghiệp liên doanh: Là doanh nghiệp được thành lập do các chủ đầu tư nước ngoài góp vốn chung với các doanh nghiệp Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh. Các bên cùng tham gia điều hành doanh nghiệp, chia lợi nhuận và chịu rủi ro theo tỷ lệ góp vốn của mỗi bên vào vốn pháp định. + Chủ đầu tư nước ngoài có thể hợp tác kinh doanh với bên Việt Nam trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh như hợp đồng chia lợi nhuận hoặc phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân mới.
* Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một loại hình di chuyển vốn quốc tế, trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn. [10] Khái niệm này cũng có điểm giống khái niệm trên, cùng là hình thức mang vốn ra nước ngoài đầu tư. Người sở hữu vốn có quyền tham gia vào hoạt động điều hành doanh nghiệp. Họ phải gánh chịu các rủi ro cũng như được hưởng lợi nhuận theo tỷ lệ góp vốn.
* Đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự đầu tư với một quan hệ dài hạn, phản ánh lợi ích và sự kiểm soát lâu dài của một chủ thể thường trú trong một nền kinh tế (nhà đầu tư nước ngoài hay công ty mẹ) tại một doanh nghiệp trong một nền kinh tế khác không phải là nền kinh tế của nhà đầu tư nước ngoài 7 z (doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc doanh nghiệp chi nhánh hoặc cơ sở chi nhánh ở nước ngoài). FDI hàm ý nhà đầu tư có ảnh hưởng đáng kể tới việc điều hành quản lý doanh nghiệp ở nền kinh tế khác. Sự đầu tư như vậy bao gồm cả những giao dịch ban đầu giữa hai chủ thể cũng như tất cả những giao dịch về sau giữa hai bên và giữa các cơ sở chi nhánh ở nước ngoài, cả chi nhánh có gắn kết và chi nhánh không gắn kết. FDI có thể do các cá thể cũng như các chủ thể kinh doanh thực hiện.
[31] Nét tương đồng của khái niệm này với các khái niệm trên ở chỗ: Các khái niệm đều bàn đến việc chuyển vốn từ một nền kinh tế này sang một nền kinh tế khác để thực hiện hoạt động kinh doanh lâu dài và đảm nhiệm hoạt động điều hành của nhà đầu tư. Ngoài ra, hoạt động đầu tư còn bao gồm cả việc tái đầu tư, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của chính chủ thể đầu tư ở nước ngoài. Hoạt động đầu tư và tái đầu tư của công ty Canon tại thị trường Việt Nam chính là ví dụ điển hình cho hoạt động FDI này. Canon đã xây dựng nhà máy ở khu công nghiệp Thăng Long.
Sau mấy năm hoạt động hiệu quả, họ tiếp tục tái đầu tư mở rộng nhà máy và xây dựng thêm hai nhà máy nữa ở tỉnh Bắc Ninh. Tuy nhiên, tất cả các khái niệm trên mới chỉ bàn đến vốn với tư cách là tiền và tư liệu sản xuất. Ngày nay, vốn còn bao gồm cả bí quyết công nghệ và giá trị thương hiệu của chủ đầu tư. Tóm lại, đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc chủ đầu tư đưa nguồn vốn của mình sang một nền kinh tế khác để thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Mức độ tham gia điều hành và phân chia lợi nhuận cũng như rủi ro của chủ đầu tư sẽ tuỳ thuộc vào phần vốn góp. Vốn của chủ đầu tư gồm có: Tiền, tư liệu sản xuất, bí quyết công nghệ và giá trị thương hiệu. Vai trò của FDI đối với sự phát triển kinh tế địa phƣơng 8 z Ngày nay, sự phát triển kinh tế của mỗi địa phương không chỉ phụ thuộc vào nguồn tài nguyên sẵn có mà còn tuỳ thuộc nhiều yếu tố khác. FDI chính là một trong số các yếu tố này.
FDI là nguồn lực đến từ bên ngoài nhưng ngày càng trở nên quan trọng và cùng với nguồn nội lực địa phương đã góp phần vào tăng trưởng kinh tế. Số thu thuế từ doanh nghiệp FDI làm gia tăng ngân sách, giúp ổn định kinh tế địa phương. Chính sách ưu đãi miễn giảm thuế trong thời gian đầu hoạt động của các doanh nghiệp FDI có làm giảm nguồn thu của địa phương nhưng xét về lâu dài thì sự hụt giảm này sẽ được bù đắp nhiều hơn khi doanh nghiệp hoạt động ổn định, làm ăn có lãi. Nhờ vậy, chính quyền địa phương có thêm nguồn kinh phí xây dựng cơ sở hạ tầng tốt hơn, góp phần cải thiện môi trường đầu tư.
Doanh nghiệp FDI xây dựng nhà máy tại địa phương đã tạo cơ hội việc làm cho người dân, nâng cao mức sống, tạo điều kiện phát triển nguồn nhân lực. Tập quán, lối sống, tác phong làm việc của người lao động cũng dần dần thích ứng với tác phong lao động công nghiệp, quen dần với cơ chế làm việc hiện đại. Do đó, chính sách xoá đói, giảm nghèo của các cấp chính quyền cũng trở nên hiệu quả hơn. Nhiều nghề mới phụ trợ được hình thành.
Các loại hình đào tạo nghề sẽ đa dạng nhằm cung cấp lực lượng lao động có tay nghề cho ngành công nghiệp địa phương. Khoảng cách giàu nghèo giữa các khu vực cũng được thu hẹp. Hoạt động FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nhiều khu vực thuần nông nay đã có thêm lao động công nghiệp.
Người lao động địa phương có điều kiện, cơ hội tiếp thu công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm quản lý hiện đại. Thông qua hoạt động của doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp địa phương có điều kiện hiểu biết về thị trường bên ngoài và nhận thức được khả năng 9 z của chính mình. Doanh nghiệp địa phương muốn tồn tại và phát triển được thì phải tự đổi mới mình, nâng cao năng lực kinh doanh, đổi mới công nghệ hiện đại. Học hỏi doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp địa phương có nhiều hiểu biết về các quy tắc giao thương quốc tế.
Nhờ vậy, năng lực xuất khẩu được cải thiện, giảm thiểu rủi ro kinh doanh doanh quốc tế, nền kinh tế hoạt động hiệu quả hơn. Tuy nhiên, FDI cũng có những tác động tiêu cực về mặt kinh tế. Nhiều doanh nghiệp địa phương yếu kém sẽ không thể cạnh tranh với doanh nghiệp FDI. Doanh nghiệp địa phương bị thua ngay trên sân nhà.
Xuất hiện sự lũng đoạn, thôn tính thị phần nhằm giành vị trí độc quyền của doanh nghiệp FDI là điều khó tránh khỏi. Ngoài ra, chất thải độc hại của doanh nghiệp FDI cũng gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng đến cuộc sống người dân địa phương,… Công nghệ, máy móc lạc hậu cũng biến địa phương trở thành bãi rác thải công nghiệp,… Thu hút được nhiều doanh nghiệp FDI nhưng vẫn đảm bảo một môi trường kinh tế phát triển ổn định, lành mạnh, không phụ thuộc vào doanh nghiệp nước ngoài đang là bài toán khó đối với các địa phương nghèo, ít có lựa chọn nhà đầu tư. Thực tế cho thấy, FDI trở thành một nhân tố chính đóng vai trò quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế địa phương, đặc biệt ở vùng tài nguyên thiên nhiên khan hiếm, diện tích đất canh tác hạn hẹp. Hoạt động FDI đưa địa phương hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới, mở ra cơ hội cho mọi thành phần doanh nghiệp.
KHÁI NIỆM SẢN PHẨM VÀ CÁC CÔNG CỤ XÚC TIẾN HỖN HỢP 1. Khái niệm sản phẩm Sản phẩm là sự thoả mãn một nhu cầu nào đó của khách hàng.123] Đây là cách nhìn sản phẩm của doanh nghiệp thương mại. Nhà lãnh đạo địa phương cũng cần có cách nhìn, lối suy nghĩ như một giám đốc doanh 10 z nghiệp trong chiến lược phát triển kinh tế địa phương. Mỗi địa phương có ưu thế, nét đặc thù riêng về môi trường đầu tư.