CHƯƠNG 1: TONG QUAN CAC VAN DE CHINH LIEN QUAN TRUC TIEP DEN DE TAI LUAN VAN 1. Câu tạo hàm răng người va chức năng của răng 1. Răng sữa Khi chào đời răng không có trong khoang miệng. Răng bị rụng vào một thời kì nhất định được gọi là răng sữa.
Răng sữa xuất hiện trong khoang miệng từ giữa tháng thứ sáu cho tới một năm tuổi. Răng sữa đâu tiên là răng cửa giữa khoảng trước 6 tháng tuổi. Răng mọc ở thời điểm này thường ở hàm trên [1].1: Minh hoa sự mọc rang [4| Răng sữa khoảng 20 răng: 5 răng ở mỗi cung phan tư của hai ham bao gồm 2 răng cửa, 1 răng nanh và 2 răng ham. Răng sữa nhỏ hơn và trang hon răng vĩnh viên.2: Vi trí răng sữa và rang vĩnh viễn 4 Hình 1.3: Hình dạng các răng sữa ở hai hàm răng Răng sữa rụng đi bắt đầu ở thời điểm hình thành chân răng.
Khoảng 12 tuổi tất cả răng sữa rụng đi vì sự tái hấp thu chân răng liên kết với sự mọc răng vĩnh cửu [1]. Răng vĩnh viễn Răng vĩnh viễn bắt dâu xuất hiện trong khoang miệng khoảng 6 tuổi và thay thé răng sữa cho tới khoảng 12 tuổi. Răng vĩnh viễn gồm 32 chiếc, 8 chiếc ở mỗi cung phan tư: 2 răng cửa, 1 răng nanh, 2 răng tiền hàm và 3 răng ham.4: Hình dang các răng vĩnh viễn ở hai ham răng. Lưỡi Tongue Lingual surface Occlusal surface } Approximal surface Labial surface Hinh 1.5: bé mat rang Hình 1.6: vi tri các răng hàm dưới trong xương ham.
[2] 5 răng dau tiên ở mỗi cung phan tư là “ kế tiếp”, chúng moc sau khi 5 răng sữa rụng đi. Tuy nhiên, răng hàm vĩnh viễn thay thế và không thay thế cho răng sữa, vì vậy được gọi là “bổ sung”. Hai răng hàm nhỏ thay thế cho các răng sữa. Ba răng hàm lớn không thay thế cho các răng sữa.
Răng vĩnh viễn đầu tiên là răng thứ sáu ở cung răng (là răng hàm lớn thứ nhất) mọc ở khoảng 6 tuổi trước khi răng sữa bị mat. Vì vậy nó được gọi là răng hàm 6 tuổi. Răng hàm lớn thứ hai ké sát được gọi là răng hàm 12 tuổi. Răng hàm lớn thứ ba thay đổi lớn trong khoảng thời gian mọc răng và đôi khi bị tác động: thân răng của nó hướng về phía mặt bên của răng hàm thứ hai.
Trung bình răng hàm lớn thứ 3 ở nữ mọc sớm hơn ở nam khoảng vài tháng. Đặc điểm và chức năng răng vĩnh viễn Răng được phân loại thành răng cửa, răng nanh, răng tiền hàm va răng ham. Răng cửa cắt thức ăn bằng ria căn của răng. Mặt lưỡi của thân răng cửa hình tam giác hướng trực tiếp về chân răng.
Hai răng cửa ở một phía của mỗi hàm được phân biệt thành (a) răng cửa giữa (b) răng cửa bên. Bốn răng cửa của hàm trên ở phía trước hàm trên. Răng cửa bên hàm trên thay đối mạnh và thường có kích thước nhỏ hơn so với răng cửa giữa. Răng cửa hàm dưới có thể khít hơn.
Răng nanh được đặt tên bởi vì nó nhô lên như răng chó. Răng nanh là răng dài, mỗi răng nanh có đỉnh nhô lên trên thân răng. Răng nanh thường là răng bị rụng mat sau cùng. Giống như răng cửa, răng nanh giúp cat thức ăn.
Răng nanh cũng quan trọng trong việc duy trì nét mặt tự nhiên. Răng tiền ham là răng thay thế cho rang ham sữa. Mỗi răng thường có hai gò lỗi hoặc đỉnh trên thân răng. Răng tiền hàm giúp nghiền nát thức ăn nhưng thân răng tiền hàm không phức tạp bằng răng hàm.
Răng hàm nghiên nát và xay nát thức ăn. Răng ham có từ ba đến năm lò gôi hoặc đỉnh trên thân răng, nhưng các đỉnh trở nên bị mòn khi hoạt động, vì vậy men răng của chúng bi mat va ngà răng có thé không được bảo vệ. Mỗi răng hàm trên thông thường có 3 chân răng, răng hàm dưới có hai chân răng. Các chân rang cua răng hàm trên liên hệ mật thiết với đáy xoang hàm trên.
Do đó, viêm tủy có thể gây viêm xoang, hoặc viêm xoang có thể gây đau răng. Răng hàm vĩnh viễn không có răng thay thế khi bị rụng. Răng hàm thứ nhất thường là răng lớn nhất. Răng hàm thứ ba được biết như là “răng khôn”.
Răng hàm thứ ba thay đối nhiều về hình dang, vi trí và chúng có thé không có hoặc không thé mọc qua lợi một cách bình thường [1]. Pulp Dentin Enamel Periodontal membrane SPoee. 1 Ệ >- ` “¢ Alveolar bone 5 EA’, “Olaoyve?owe *.7: các thành phan và câu trúc của răng [4] 1. Các phần của răng Thân răng bao gồm thân răng giải phẫu và thân răng lâm sang.
e Than răng giải phẫu được bao phủ bởi men răng. e Than răng lâm sàng nhô ra trong khoang miệng. Chân răng là phan được cắm vào xương 6 răng của xương ham, được che phủ trên cùng bởi lợi bám ở cổ răng, tận cùng bằng chóp chân răng. Bao bọc chân răng là một lớp cement.
Tổ chức quanh răng bao gồm màng quanh răng va dây chang quanh răng nối cementium với xương ở răng, do đó hình thành thớ sợi giữa răng và chân răng. Tổ chức quanh răng có thể được coi như sự thay đối màng xương 6 răng, nhưng có chức năng dây chang hon là chức năng màng. Nướu được tạo nên bởi các mô sợi dày đặc được bao phủ bởi màng nhay miệng (gồm có biểu mô hình vảy xếp thành tang tao sừng) [1].2 Cầu trúc răng Circumpulpal dentine Fissure Enamel Men rang Dento-enamel junction (DEJ) Dentine —‡——— Crown Than răng Nga ri Pulp ——\—+ ——— Cementum f©ọ+t' Chan răng Hinh 1.8: cau tric rang [5| Mỗi răng gdm có mô, tủy và được bao bọc bởi ba lớp hóa vôi: ngà rang, men răng va chat giống như xương bao phủ chân răng (cement). Men răng là chat cứng nhất.
Cấu tạo khoảng 95% hydorxyapatite, 4% nước, 1% chất hữu cơ. Hydroxyapatite là một hợp chat khoáng hóa với công thức hóa học Ca¡s (PO, )„(OH) ;. Cau trúc men chứa các vi tinh thé cực nhỏ được gọi là enamel prisms có đường kính từ 4um đến 6um. Mang tinh thé lẫn các tạp chất CI-,EF~ , Na * K*,vaMeg**.
Nga răng mềm hơn khoảng 70% thé tích là hydroxyapatite, 20% chat hữu cơ- sợi collagen- và 10% nước. Câu trúc bên trong của ngà răng là các ông nhỏ- gọi là Ống nga (dentine tubules) có độ dài vai mm, đường kính giữa 100nm và 3um. Các ông ngà cân thiệt cho sự phát trién cua răng.9: Các ống ngà quan sát dưới kính hiển vi Tủy răng không chứa khoáng hóa. Tủy chứa mạch máu, dây thân kinh, các tế bào khác nhau, đặc biệt là tế bào tạo răng và nguyên bao soi.
Tế bào tạo răng làm nga phát triển, trong khi nguyên bao sợi cung cấp cả độ bền và cơ chế điều chỉnh răng. Tủy thông với mạch máu bên ngoài băng một hốc nhỏ gọi là Ống tủy. Răng được bao lay bởi mô mềm gọi là nướu, giúp răng cô định và ngăn ngừa vi khuẩn tan công vào tủy. Tủy răng được bao bọc bởi chất giống như xương bao phủ chân răng.
Một vài răng có nhiều hon một tủy. Răng được gan chặt vào ham tại 6 răng. Mỗi răng nam trong hốc xương gọi là xương 6 răng. Mỗi răng sở hữu một khoang chứa tủy.
Khoang tủy g6m có buông tủy ở thân răng, một hoặc nhiều Ống tủy ở chân răng. Mỗi ống tủy thông bởi một hoặc nhiều lỗ chóp ở chóp chân răng. Thần kinh, máu và mạch bạch huyết cung cấp vào và ra khỏi tủy răng thông qua 16 chop răng [1,3]. Vùng quanh răng Vùng quanh răng bao gồm: lợi, dây chang quanh răng, xương răng (ciment) và xương 6 răng 1.
Lợi Là phần đặc biệt của niêm mạc miệng, liên quan trực tiếp với răng, bám vào cô răng (xương và xương cô răng). Gồm: e Nhu lợi ¢ Boi lợi (viền lợi) e Lợi chính e Negach lợi 10 e Ranh lợi sinh lý Niêm mạc lợi giống niêm mạc hàm ếch cứng, là một tổ chức sợi niêm. Ở phía ngách lợi má, giữa niêm mạc lợi và niêm mac di động của miệng có một đường ranh giới rõ rệt. Ta có thê phân biệt lợi tự do, lợi bám dính và nhú lợi giữa các răng.
Gitta lợi tự do và răng là một rãnh nông, day của nó tạo bởi biểu mô bám dính là nơi bám của lợi vào răng, bình thường rãnh sâu này sâu khoảng 0.5 mm gọi là túi lợi sinh lý. Có tác giả mô tả lợi tự do gồm gôm 2 phan khác nhau về mặt sinh lý, đó là nhú lợi và viễn lợi. Nhu lợi là phan lợi che kín các kẽ răng phía ngoài và phía trong. Đường viên lợi là phan lợi ôm thân răng ở mặt ngoài và trong, nó không dính vào rang, chiều cao khoảng 0.
Hình thé của nhú lợi của nhú lợi và đường viền lợi phụ thuộc vào hình thể của răng, của chân răng và xương ô răng. Lợi dính là phần lợi bám dính vào chân răng và xương ô răng. Mặt ngoài của lợi dính cũng như lợi tự do được phủ bằng một lớp biểu mô sừng hóa. Mặt trong có hai phan: phan bám vào chân răng khoảng 1.5 mm va phan bám dính vào mặt ngoai xương 6 rang.
Nó có mau hồng nhạt hơn màu của lợi tự do. Về mặt vi thé, lợi câu tạo bởi lớp biểu mô và dưới là tổ chức liên kết. Màu của lợi phụ thuộc vào mật độ mao mach dưới biêu mô và các hạt hac tô [6]. Dentin Enamel Gingival Sulcus Free gingival margin Dentogingival Alveologingival Circumferential Dentoalveolar Periodontal membrane Periosteal Hinh 1.10: day chang quanh rang [4] 11 Có nguồn gốc trung mô, câu trúc chính là những bó sợi keo với chức năng cơ học của răng lợi và khe quanh răng tạo nên những dây chăng và được sắp xếp tùy theo chức năng của răng và vùng quanh răng: nó giữ răng trong 6 răng và vùng quanh răng.
Tùy theo sự sắp xếp và hướng đi của các bó sợi mà người ta phân ra những nhóm sau: - _ Nhóm cổ răng hay nhóm mau 6 răng: gồm những bó soi đi từ mao xương 6 răng đến xương răng gan cô răng. - _ Nhóm ngang: gồm những bó sợi đi từ xương răng ở chân răng thắng góc với trục của răng vao xương răng. Nhóm này chiếm số lượng nhiều nhất trong dây chăng quanh răng. - - Nhóm chéo: gồm những bó di từ xương 6 răng chếch xuống phía dưới chân răng bám vào xương răng.
Nhóm này chiếm số lượng nhiều nhất trong dây chăng quanh răng. - _ Nhóm cuống răng: g6m những bó sợi đi từ xương răng ở cuống răng tỏa hình nan quạt dé đến bám vào xương 6 răng vùng cuốn răng.