CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ 1. Lịch sử hình thành và phát triển của kế toán quản trị Xét về phạm vi thông tin kế toán quản trị, quá trình hình thành, phát triển kế toán quản trị trong doanh nghiệp sản xuất trải qua hai giai đoạn cơ bản với những nội dung khác nhau: [11, 84] • Giai đoạn thứ nhất, khoảng trước những năm 1950, kế toán quản trị được xem như là một phương pháp kỹ thuật xác định, phân bổ chi phí sản xuất để tính giá vốn sản phẩm chế tạo, giá vốn hàng bán và lập dự toán chi phí sản xuất nhằm cung cấp thông tin tài chính cho nhà quản trị kiểm soát chi phí, định hướng sản xuất; • Giai đoạn thứ hai, khoảng những năm 1965 cho đến nay, kế toán quản trị được xem như là chuyên môn kế toán phản ảnh, cung cấp thông tin kinh tế, tài chính cho nhà quản trị thực hiện toàn diện các chức năng quản trị. Xét về trọng tâm thông tin, quá trình hình thành, phát triển kế toán quản trị trong doanh nghiệp trải qua 4 giai đoạn cơ bản với trọng tâm thông tin khác nhau: [2, 27] Giai đoạn 1: Trước những năm 1950, KTQT chủ yếu quan tâm vào việc xác định chi phí và kiểm soát tài chính, thông qua việc sử dụng các kỹ thuật dự toán và kế toán chi phí. Giai đoạn 2: Vào những năm 1965, sự quan tâm của KTQT đã chuyển vào việc cung cấp thông tin cho hoạt động lập kế hoạch và kiểm soát của nhà quản trị, thông qua việc sử dụng các kỹ thuật như phân tích quyết định và kế toán trách nhiệm.
Giai đoạn 3: Vào những năm 1985, KTQT tập trung quan tâm vào việc làm giảm hao phí nguồn lực sử dụng trong các quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, thông qua việc sử dụng các kỹ thuật phân tích và quản lý chi phí. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Giai đoạn 4: Vào những năm 1995, KTQT chuyển qua quan tâm vào việc tạo ra giá trị bằng cách sử dụng hiệu quả các nguồn lực, thông qua việc sử dụng các kỹ thuật đánh giá các yếu tố tạo nên giá trị cho khách hàng, giá trị cho cổ đông và sự thay đổi cho tổ chức. Kế toán quản trị được đưa vào giảng dạy lần đầu tiên tại Đại học Kinh doanh Harvard và Viện Công Nghệ Massachusets vào thập kỷ 80. Còn ở Việt Nam, Kế toán quản trị được đưa vào giảng dạy từ những năm đầu 1990- Trường đại học kinh tế TP.
Kế toán quản trị được thừa nhận và công bố trong Luật kế toán do Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam thông qua ngày 17/03/2003: “ Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán.” Sau đó Thông tư 53/2006/TT-BTC ngày 12/06/2009 được ban hành để hướng dẫn thực hiện Luật kế toán. Thực tế kế toán quản trị đã xuất hiện ẩn trong kế toán tài chính (kế toán chi phí và tính giá thành, một số lĩnh vực kế toán chi tiết về hàng tồn kho, bán hàng, chi phí, …) và ngày nay, trong các doanh nghiệp Việt Nam, kế toán quản trị chỉ là bước khởi điểm, chưa có quan điểm rõ ràng, rời rạc và cục bộ. Những vấn đề chung về kế toán quản trị 1. Khái niệm Theo Luật Kế toán Việt Nam (2003), khoản 3, điều 4: “ Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”.
Theo định nghĩa của Hiệp hội kế toán viên quản trị Hoa kỳ: “Kế toán quản trị là quá trình nhận diện, đo lường, tổng hợp, phân tích, soạn thảo, diễn giải và truyền đạt thông tin được nhà quản trị sử dụng để lập kế hoạch, đánh giá và kiểm tra trong nội bộ tổ chức và để đảm bảo việc sử dụng hợp lý và có trách nhiệm đối với nguồn lực của tổ chức đó.”[2, 28] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Theo Liên đoàn Kế toán Quốc tế công bố trong tài liệu tổng kết các khái niệm kế toán quản trị trên thế giới năm 1998: “Kế toán quản trị được xem như là một quy trình định dạng, kiểm soát, đo lường, tổng hợp, phân tích, trình bày, giải thích và truyền đạt thông tin tài chính, thông tin phi tài chính liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp cho những nhà quản trị thực hiện hoạch định, đánh giá, kiểm soát, điều hành hoạt động tổ chức nhằm đảm bảo sử dụng có trách nhiệm, hiệu quả nguồn lực kinh tế của doanh nghiệp.”[11, 99] Tóm lại, từ các định nghĩa trên có thể hiểu kế toán quản trị là quá trình thu thập, ghi chép, xử lý và lập các báo cáo nội bộ nhằm cung cấp thông tin phục vụ cho những nhà quản trị trong doanh nghiệp thực hiện các chức năng quản trị. Bản chất của kế toán quản trị Sự phát triển kinh tế xã hội dẫn đến hình thành những nhận thức khác nhau về KTQT và chính nền kinh tế thị trường đã làm nổi bật nhu cầu về KTQT, thúc đẩy KTQT phát triển nhanh chóng. Ngày nay, KTQT có thể nhận thức khác nhau, tuy nhiên về cơ bản KTQT là một quy trình định dạng, thu thập, kiểm tra, định lượng để trình bày, giải thích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính về hoạt động của doanh nghiệp cho những nhà quản trị thực hiện toàn diện các chức năng quản trị.[4, 20] Kế toán quản trị ra đời, hình thành và phát triển gắn liền với nhu cầu thông tin quản trị của các nhà quản trị trong doanh nghiệp. Kế toán quản trị có những đặc điểm mang tính quy chuẩn như kế toán tài chính và nó cũng có đặc điểm riêng khá linh hoạt trong việc phản ánh, cung cấp thông tin quản trị.
Kế toán quản trị luôn gắn liền với chức năng phản ánh và cung cấp thông tin đáp ứng cho nhu cầu thông tin thực hiện các chức năng quản trị trong doanh nghiệp. Chức năng của nhà quản trị Quản trị là một phương thức làm cho những hoạt động tiến tới mục tiêu của tổ chức được hoàn thành với hiệu quả cao. Phương thức này bao gồm các chức năng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 cơ bản mà nhà quản trị có thể sử dụng, đó là: hoạch định, tổ chức – điều hành, kiểm soát và ra quyết định.[7, 6-8] - Chức năng hoạch định: Mọi hoạt động của doanh nghiệp đều được tiến hành theo các chương trình định trước trong các kế hoạch dài hạn, kế hoạch hàng năm và kế hoạch tác nghiệp để hoạt động đạt được mục tiêu. Việc xây dựng kế hoạch ở các doanh nghiệp là hết sức cần thiết từ nhiều phương diện: + Là cơ sở định hướng cũng như chỉ đạo mọi hoạt động kinh doanh, phối hợp các chương trình hoạt động của các bộ phận liên quan.
+ Là cơ sở để kiểm soát các hoạt động kinh doanh, mọi chênh lệch giữa thực hiện so với kế hoạch đều biểu hiện những nguyên nhân hợp lý và bất hợp lý. + Là cơ sở để đánh giá kết quả hoạt động của các bộ phận trong doanh nghiệp. Đây chính là cơ sở tăng cường trách nhiệm vật chất, thực hiện các phương pháp quản lý và điều hành của doanh nghiệp. - Chức năng tổ chức – điều hành: Tổ chức là quá trình xây dựng và phát triển một cơ cấu nguồn lực hợp lý, đồng thời tạo ra những điều kiện hoạt động cần thiết bảo đảm cho cơ cấu tổ chức được vận hành hiệu quả.
Nhà quản trị có thể thực hiện tốt công việc tổ chức mới tạo nên một môi trường nội bộ thuận lợi cho mỗi cá nhân, mỗi bộ phận phát huy được năng lực và nhiệt tình của mình, đóng góp tốt nhất vào việc hoàn thành mục tiêu chung của tổ chức. Điều hành là một trong những chức năng của quản trị gắn liền với các hoạt động đôn đốc, động viên, giám sát các công việc hàng ngày, đảm bảo các hoạt động trong tổ chức được thực hiện một cách nhịp nhàng, thúc đẩy các thành viên trong tổ chức hoạt động với một hiệu quả cao nhằm đạt mục tiêu của tổ chức. - Chức năng kiểm soát: Kiểm soát là chức năng đảm bảo cho mọi hoạt động trong tổ chức đi đúng mục tiêu. Chức năng kiểm soát của nhà quản trị chính là việc so sánh kết quả thực hiện với kế hoạch để kịp thời phát hiện những sai sót, khuyết điểm nhằm điều LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 chỉnh, giúp cho các thành viên trong tổ chức hoàn thành nhiệm vụ.
Trong quá trình thực hiện chức năng kiểm soát, nhà quản trị luôn tiếp xúc và ghi nhận thông tin phản hồi từ thực tiễn và kịp thời chuyển hóa chúng thành thông tin kế hoạch. - Chức năng ra quyết định: Ra quyết định là việc lựa chọn phương án thích hợp nhất. Có thể nói nội dung cơ bản của hoạt động quản trị là vấn đề ra quyết định. Ra quyết định là khâu mấu chốt trong quá trình quản trị, bởi lẽ từ việc điều hành sản xuất kinh doanh hàng ngày cho đến việc giải quyết các vấn đề mang tính chiến lược đều được tiến hành dựa trên cơ sở những quyết định thích hợp.
Chức năng này không thực hiện độc lập mà được thực hiện đồng thời với các chức năng khác của nhà quản trị. Mục tiêu của kế toán quản trị Mục tiêu của KTQT phụ thuộc vào quan điểm của các trường phái khác nhau: - Trường phái Anh, Mỹ thì có quan điểm KTQT là một bộ phận của quản trị nên mục tiêu là cung cấp thông tin chủ yếu thực hiện các chức năng quản trị trong hoạt động doanh nghiệp. - Trường phái Đông Âu, Nhật thì có quan điểm KTQT là một bộ phận của kế toán nên mục tiêu chủ yếu là cung cấp thông tin quản lý, kiểm soát hoạt động doanh nghiệp. - Các nước khác: chưa có quan điểm riêng, chỉ là sự áp dụng kế toán quản trị từ các nước có nền kế toán quản trị phát triển.
Các mục tiêu cụ thể của kế toán quản trị bao gồm:[2, 29] - Cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định và lập kế hoạch, tham gia một cách tích cực vào các quá trình ra quyết định và lập kế hoạch; - Hỗ trợ các nhà quản trị trong việc định hướng và kiểm soát các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh; - Thúc đẩy các nhà quản trị và nhân viên nhắm vào các mục đích của tổ chức; LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.