CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỌC THUYẾT MASLOW VÀ ỨNG DỤNG HỌC THUYẾT MASLOW TRONG TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về học thuyết Maslow 1. Giới thiệu chung Abraham Maslow (1908-1970) là một nhà tâm lý học nổi tiếng người Mỹ. Ông được coi là cha đẻ của tâm lý học nhân văn.
Năm 1943, Maslow công bố công trình mang tên "A Theory of Human Motivation". Ông đã phát triền một trong các học thuyết về động lực nổi tiếng, thường được biết đến với tên gọi "Tháp nhu cầu của Maslow". Maslow phát triển ý tưởng này dựa trên những quan sát về mong muốn bẩm sinh của con người. Theo thuyết học này, Maslow cho rằng, trong mỗi con người đều tồn tại một hệ thống nhu cầu, và khi nhu cầu bậc thấp được thoản mãn một cách căn bản thì nhu cầu bậc tiếp theo sẽ chế ngự.
Hệ thống phân cấp nhu cầu của Maslow được sử dụng để nghiên cứu cách mọi người thực sự tham gia vào việc thúc đẩy hành vi của họ. Maslow đã sử dụng các thuật ngữ " physiological-sinh lý", " safety - an toàn", " love/belonging- tình cảm", " esteem – tôn trọng/ kính mến" và “self-actualization - thể hiện bản thân" để mô tả mô hình phát triển nhu cầu của con người. Điều này có nghĩa là để phát sinh nhu cầu ở giai đoạn tiếp theo, thì nhu cầu ở tầng thấp hơn phải được đáp ứng. Học thuyết này không chỉ được thừa nhận rộng rãi trên phạm vi quốc tế mà còn được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như: quản trị kinh doanh, maketing.
Nội dung của học thuyết Maslow Theo Abraham Maslow, nhu cầu của con người hình thành nên hành vi của họ nhu cầu của con người được phân cấp từ bậc thấp nhất đến bậc cao nhất theo hướng từ đáy lên tới đỉnh của kim tự tháp, theo mức độ về tầm quan trọng. Khi một nhu cầu được thoản mãn một cách căn bản thì nó không còn là động cơ thúc đẩy, mà nhu cầu tiếp theo sẽ trở thành lực thúc đẩy con người thực hiện những hành vi để thỏa mãn chúng. Tại thời điểm đầu tiên, Maslow đã phân loại và sắp xếp nhu cầu của con người 5 theo 5 cấp bậc như sau: (1)nhu cầu sinh lý học, (2) nhu cầu an toàn, (3) nhu cầu xã hội, (4) nhu cầu tôn trọng, và (5) nhu cầu hiện thực hóa tiềm năng. Sau đó, vào những năm 1971 và 1988, Maslow đã hiệu chỉ tháp nhu của mình lần lượt thành 7 bậc và 8 bậc.
Tuy vậy, "Tháp nhu cầu của Maslow" với 5 bậc vẫn là học thuyết được biết đến rộng rãi hơn cả. Tr 10) Maslow đã sắp xếp hệ thống nhu vầu của con người theo 5 thứ bậc từ thấp đến cao như sau: Nhu cầu tự hoàn thiện Nhu cầu được Cấp cao tôn trọng Nhu cầu xã hội Nhu cầu về an toàn Cấp thấp Nhu cầu về sinh học (Vật chất) Hình 1.1: Tháp nhu cầu Maslow Nguồn: Lê Thanh Hà (2009) Bậc 1: Nhu cầu sinh lý học Nhu cầu sinh lý học là điểm khởi đầu trong tháp nhu cầu của Maslow. Đây là những nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống con người như: thức ăn, nước uống và các nhu cầu sinh lý học khác. Maslow cho rằng, đây là nhu cầu căn bản nhất con người, được hình thành từ khi con người được sinh ra.
Khi một người thiếu thốn tất cả mọi thứ như: lương thực, sự an toàn, tình yêu thì nhu cầu về lương thực sẽ mạnh mẽ hơn tất cả những nhu cầu khác. Có thể hiểu, khi nhu vầu sinh lý học chưa được thỏa mãn tới mức độ cần thiết để có thể duy trì cuộc sống thì nhu cầu khác sẽ không thúc đẩy 6 được con người. Bậc 2: Nhu cầu an toàn Nhu cầu ở bậc 2 nói về cảm giác hài lòng về sức khỏe, vật chất, gia đình khi được bảo vệ. Sau khi được đáp ứng về nhu cầu ở bậc 1, con người sẽ hình thành lên nhu cầu ở bậc 2- nhu cầu an toàn.
Đây là những nhu cầu của con người để tránh khỏi những nguy hại về thân thể và tinh cảm, nhu cầu có một công việc ổn định và được bảo vệ, nhu cầu có tài khoản tiết kiệm. Nhu cầu này trong doanh nghiệp được thể hiện ở việc đảm bảo an toàn trong lao động, môi trường làm việc được thoải mái, không áp lực. Bậc 3: Nhu cầu xã hội Theo A. Maslow, khi nhu cầu sinh lý học và nhu cầu an toàn được thỏa mãn khá tốt, thì nhu vầu xã hội, sự yêu thương gắn bó, nhu cầu thuộc vào một nhóm, một cộng đồng, nhu cầu được chấp nhận và nhu cầu có được tình bạn của con người sẽ trở nên mạnh mẽ.
Nhu cầu xã hội này thiên về các yếu tố như tinh thần, cảm xúc, con người sẽ khao khát mốt quan hệ tình cảm với mọi người nói chung. Trong doanh nghiệp, nhu cầu này thể hiện các mối quan hệ trong công ty: quan hệ đồng nghiệp, quan hệ cấp trên cấp dưới…Nhu cầu này vô cùng cần thiết trong doanh nghiệp, khi nhân viên đạt được nhu cầu này thì sẽ mang lại các sản phẩm, dịch vụ tốt nhất giúp doanh nghiệp phát triển. Bậc 4: Nhu cầu tôn trọng Khi con người bắt đầu thỏa mãn nhu cầu xã hội và được chấp nhận là thành viên trong xã hội thì con người mong muốn có được tự tin, tự trọng, nhận được sự đánh giá cao và sự tôn trọng từ người khác. Nhu cầu này có thể được phân thành hai nhóm, một là khao khát được sức mạnh, thành tựu, sự tự tin để đối mặt với thế giới, cùng với sự tự chủ và tự do.
Tiếp theo là sự mong muốn có được danh tiếng và uy tín. Đây là mong muốn của con người nhận được sự công nhận, sự chú ý, tầm quan trọng và sự đánh giá cao từ những người xung quanh. Đối với trong mỗi tổ chức hay doanh nghiệp, mỗi nhân viên khi họ cống hiến hết mình thì cũng mong được nhận lại sự công nhận và tôn trọng cho cố gắng của họ. Mỗi nhân viên luôn mong muốn cố gắng có địa vị cao trong tổ chức đều được nhiều người tôn trọng và kính nể.
Bậc 5: Nhu cầu hiện thực hóa tiềm năng Trong nghiên cứu của mình vào năm 1954, A. Maslow xem nhu cầu hiện thực 7 hóa tiềm năng là nhu cầu cao nhất trong tháp nhu cầu của mình. Đó là sự mong muốn để đạt được, trở thành những gì mà bản thân có thể đạt tới. Nhu cầu này bao gồm mong muốn được tiến bộ, phát triển hết tiềm năng và tự chủ trong công việc và cuộc sống.
Có thể nói, đây là khát vọng và nỗ lựa để đạt được mong muốn tự thân. Học thuyết nhu cầu của Maslow được rất nhiều các doanh nghiệp trên thế giới ứng dụng vào vận hành tổ chức của mình, bởi nó đã thể hiện hết được các nhu cầu của con người từ mức thấp nhất đến cao nhất. Việc sắp xếp các nhu cầu này theo cấp bậc, giúp các nhà quản trị hiểu được, cần tạo được nhu cầu nào trước, quan trọng để làm đòn bẩy tiến tới các nhu cầu tiếp theo, tránh trường hợp chồng chéo, không hiểu rõ nhu cầu của các nhân viên. Quan niệm động lực và tạo động lực 1.
Khái niệm động lực làm việc Đã có nhiều quan điểm, khái niệm và nhiều định nghĩa khác nhau về động lực. Tùy từng góc độ tiếp cận, nhà nghiên cứu đưa ra những cái nhìn khác nhau. Ví dụ dưới góc độ nhà tâm lý học người Mỹ- John Atkinson - Người đi đầu trong nghiên cứu về động lực của con người thì “động lực” là "một nhóm các yếu tố kích hoạt hành vi và đưa ra hướng". Hay học giả Madsen lại đưa ra một khái niệm rất ngắn gọn: "Động lực – đó chính là động cơ thúc đẩy hành vi".
Có thể hiểu đơn giản Động lực (Motivation) là động cơ thúc đẩy hành động con người. Nó cung cấp sinh lực và hướng con người vào những hành vi có mục đích; là yếu tố giúp bạn đi đến hành động hay lựa chọn nào đó. Về cơ bản các định nghĩa về động lực, chúng ta nhận thấy luôn sự xuất hiện của 03 cụm từ: động cơ - motive, định hướng - drive và cảm xúc - motion. Tóm lại, động lực có thể được hiểu là sự thúc đẩy từ bên trong của chủ thể (người học) hoặc do sự tác động từ bên ngoài tới chủ thể khiến họ tự nguyện nỗ lực, phấn đấu đạt được mục tiêu với kết quả tốt nhất.
Động lực làm việc của nhân viên chính là tài sản, giá trị của tổ chức, chúng tỷ lệ thuận với thành công của doanh nghiệp, tổ chức. Động lực là một thứ vô hình, khó đo lường và cực kỳ khó kiểm soát, nhưng rất dễ tạo điều kiện nếu như thực hiện đúng. Từ đó ta thấy được động lực làm việc đóng vai trò rất quan trọng trong cả sự thành công và phát triển của tổ chức. Khái niệm tạo động lực làm việc 8 Theo Lê Thanh Hà (2009), “Tạo động lực lao động là tổng hợp các biện pháp và cách hành xử của tổ chức, nhà quản lý để tạo ra sự khát khao, tự nguyện của người lao động buộc họ phải nỗ lực, cố gắng phấn đấu nhằm đạt được các mục tiêu mà tổ chức đề ra.
Các biện pháp được đặt ra có thể là các đòn bẩy kích thích về tài chính, phi tài chính, cách hành xử của tổ chức được thể hiện ở điểm tổ chức đó đối xử lại với người lao động như thế nào”. Tạo động lực các tác động rất lớn và trực tiếp đến việc thực hiện công việc của mỗi cá nhân. Việc không có động lực trong công việc có thể dẫn đến kết quả thực hiện công việc không được như khả năng, năng lực sẵn có của người lao động. Trong quá trình phát triển của doanh nghiệp, mỗi cá nhân cũng cần phải nâng cao khả năng của bản thân để đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp 1.
Lợi ích của việc tạo động lực làm việc Tạo động lực lao động tạo ra mối liên hệ mật thiết giữa người lao động và tổ chức, sự phát triển trong công việc để tạo ra kết quả của nhân viên sẽ giúp tổ chức thu được kết quả kinh doanh cao, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận. Sự phát triển của tổ chức giúp người lao động có được các chính sách tốt, tiền lương cao, cơ hội phát triển khi làm trong môi trường lớn, chuyên nghiệp, đây là yếu tố có thể cạnh tranh với các đối thủ trong khu vực cùng ngành nghề kinh doanh.