ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm qua, với xu thế đổi mới và hội nhập, Việt Nam đã tạo đƣợc những xung lực mới cho quá trình phát triển, vƣợt qua tác động của suy thoái toàn cầu và duy trì tỷ lệ tăng trƣởng kinh tế hàng năm với mức bình quân 5,7% / năm. Tuy nhiên, nƣớc ta vẫn đang phải đ i mặt với rất nhiều thách thức, trong đó có vấn đề thay đổi nhiệt độ bề mặt cũng làm ảnh hƣởng nghiêm trong đến cuộc s ng đến con ngƣời và sinh vật. Không những thế còn tác động vào các yếu t khí tƣợng khác nhƣ độ ẩm, lƣợng mƣa, .và các vấn đề thiên tai cũng bị ảnh hƣởng. Đây cũng là hệ quả của biến đổi khí hậu mà Việt Nam là 1 trong những nƣớc chịu ảnh hƣởng nặng nhất.
Theo s liệu quan trắc nhiệt độ tại Việt Nam có những điểm đáng lƣu ý sau: Trong khoảng 50 năm qua (1951 - 2000), nhiệt độ trung bình năm (TBN) ở Việt Nam đã tăng lên 0,70C. Nhiệt độ TBN của 4 thập kỷ gần đây (1961 - 2000) cao hơn TBN của 3 thập kỷ trƣớc đó (1931 - 1960). Nhiệt độ TBN của thập kỷ 1991 – 2000 ở Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh đều cao hơn trung bình (TB) của thập kỷ 1931 – 1940 lần lƣợt là 0,8; 0,4 và 0,6ºC.
Năm 2007, nhiệt độ TBN ở cả 3 nơi trên đều cao hơn TB của thập kỷ 1931 – 1940 là 0,8 – 1,3ºC và cao hơn thập kỷ 1991 – 2000 là 0,4 – 0,5ºC. Và xu thế là trên các khu vực, nhiệt độ TBN có thể tăng lên 2ºC vào năm 2050. Dự tính đến năm 2100 nhiệt độ sẽ tăng lên 3ºC. Hiên nay trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về sự biến động nhiệt trên bề mặt trái đất, làm tiền đề, cơ sở khoa học để phát triển.Việt Nam những năm gần đây đã bƣớc đầu nghiên cứu sử dụng ảnh hồng ngoại nhiệt để tính nhiệt độ bề mặt nhƣng phần lớn mới chỉ sử dụng các phƣơng pháp ƣớc tính nhiệt độ đơn giản để cho kết quả nhanh.
Một s nghiên cứu sử dụng công thức Plank để ƣớc tính nhiệt độ bề mặt chỉ từ duy nhất kênh hồng ngoại nhiệt và không sử dụng độ phát xạ bề mặt, hoặc sử dụng độ phát xạ là hằng s chung cho các đ i tƣợng lớp phủ điển hình của toàn khu vực. Đã có nhiều nghiên cứu đƣợc diễn ra tại thành ph Sơn La tuy nhiên vẫn có nhiều hạn chế. 1 Hiện nay vấn đề gia tăng nhiệt độ đang ảnh hƣởng rất nghiêm trọng đến việc phát triển kinh tế xã hội và các vấn đề môi trƣờng khác trong đó thành ph Sơn La cũng không ngoại lệ. Khu vực này còn tập trung phát triển nhiều loại hình kinh tế nhƣ nông nghiệp, công nghiệp,… trong đó có nhiều sự án thủy điện đang đƣợc đẩy mạnh phát triển chủ đạo nên vấn đề thay đổi nhiệt độ ảnh hƣởng rất nhiều.
Nên việc “Ứng dụng GIS và viễn thám để xây dựng bản đồ nhiệt độ bề mặt đất tại thành phố Sơn La” là rất cần thiết để cung cấp cơ sở khoa học để đƣa ra đƣợc các biện pháp khắc phục. 2 PHẦN I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Viễn thám và hệ thống thông tin địa lý (GIS) 1. Khái quát chung về hệ thống thông tin địa lý Hệ th ng thông tin địa lý (Geographic Information System ) đã bắt đầu đƣợc sử dụng rộng rãi ở các nƣớc phát triểm hơn một thập niên qua, đâu là 1 dạng ứng dụng công nghệ tin học nhằm mô tả thế giới thực mà loài đang s ng, tìm hiểu, khai thác.
Với những tính năng ƣu việt, kĩ thuật GIS ngày nay đã đƣợc ứng dụng nhiều lĩnh vực nghiên cứu và quản lí, đặc biệt là trong quản lí và quy hoạch sử dụng, khai thác các nguồn tài nguyên một cách bền vững và hợp lí. Khái niệm hệ thống thông tin địa lý: Hệ th ng thông tin địa lý (GIS) là một nghành khoa học khá mới nên cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về GIS. Theo Ducke (1979) định nghĩa, GIS là một hệ th ng thông tin, ở đó cơ sở dữ liệu bao gồm sự quan sát các đặc trƣng phân b không gian, các hoạt động sự kiện có thể xác định trong khoảng không nhƣ điểm, đƣờng, vùng. Sự ra đời của hệ thống thông tin địa lý: Lĩnh vực hệ th ng thông tin địa lý (GIS) bắt đầu vào những năm 1960 khi các máy tính và các khái niệm ban đầu về địa lý định lƣợng và tính toán xuất hiện.
Công việc GIS ban đầu bao gồm nghiên cứu quan trọng của cộng đồng học thuật. Sau đó, Trung tâm Dữ liệu và Phân tích Địa lý Qu c gia do Michael Goodchild dẫn đầu đã chính thức nghiên cứu các chủ đề khoa học về thông tin địa lý chủ ch t nhƣ phân tích không gian và hình dung. Những nỗ lực này đã thúc đẩy cuộc cách mạng định lƣợng trong thế giới khoa học địa lý và đặt nền móng cho GIS. Tác phẩm tiên phong của Roger Tomlinson để khởi xƣớng, lên kế hoạch và phát triển hệ th ng thông tin địa lý Canada đã dẫn tới GIS đầu tiên trên thế giới vào năm 1963.
Chính phủ Canada đã ủy quyền cho Tomlinson tạo ra một bản kiểm kê có thể quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên của 3 nó. Ông đã hình dung việc sử dụng máy vi tính để kết hợp dữ liệu tài nguyên thiên nhiên từ tất cả các tỉnh. Tomlinson đã tạo ra thiết kế cho máy tính tự động để lƣu giữ và xử lý s lƣợng lớn dữ liệu, cho phép Canada bắt đầu chƣơng trình quản lý sử dụng đất qu c gia. Ông cũng đƣa ra tên của GIS.
Khi máy tính trở nên mạnh hơn, Esri đã cải tiến các công cụ phần mềm. Làm việc về các dự án giải quyết các vấn đề thực tế đã khiến công ty phải đổi mới và phát triển các công cụ và phƣơng pháp GIS mạnh mẽ có thể đƣợc sử dụng rộng rãi. Tác phẩm của Esri đã đƣợc công nhận bởi cộng đồng hàn lâm nhƣ là một cách mới để phân tích không gian và lập kế hoạch. Esri đã phát triển ARC / INFO - sản phẩm GIS thƣơng mại đầu tiên cần phải phân tích s lƣợng dự án ngày càng tăng.
Công nghệ này đƣợc phát hành vào năm 1981 và bắt đầu sự phát triển của Esri thành một công ty phần mềm. Các thành phần cơ bản của hệ thống thông tin địa lý: Hệ th ng thông tin địa lí gồm 5 thành phần chính: Hình 1. Các thành phần của GIS. Phần cứng: bao gồm máy tính và các thiết bị ngoại vi.
Phần mềm: là bộ não của hệ th ng, phần mềm GIS rất đa dạng và có thể chia làm 3 nhóm (nhóm phần mềm quản đồ họa, nhóm phần mềm quản trị bản đồ và nhóm phần mềm quản trị, phân tích không gian). Dữ liệu: bao gồm dữ liệu không gian (dữ liệu bản đồ) và dữ liệu thuộc tính (dữ liệu phi không gian). Dữ liệu không gian miêu tả vị trí địa lý của đ i tƣợng trên bề mặt Trái đất. Dữ liệu thuộc tính miêu tả các thông tin liên quan đến đ i tƣợng, các thông tin này có thể đƣợc định lƣợng hay định tính.
4 Phƣơng pháp: một phần quan trọng để đảm bảo sự hoạt động liên tục và có hiệu quả của hệ th ng phục vụ cho mục đích của ngƣời sử dụng. Con ngƣời: Trong GIS, thành phần con ngƣời là thành phần quan trọng nhất bởi con ngƣời tham gia vào mọi hoạt động của hệ th ng GIS (từ việc xây dựng cơ sở dữ liệu, việc tìm kiếm, phân tích dữ liệu …). Có 2 nhóm ngƣời quan trọng là ngƣời sử dụng và ngƣời quản lý GIS. Cơ sở dữ liệu: Cơ sở dữ liệu là các thông tin đƣợc lƣu dƣới dạng s theo một khuôn dạng nào đó mà máy tính có thể hiểu và đọc đƣợc.
Dữ liệu thông tin đƣợc định vị địa lýlà chìa khóa của sự khác nhau giữa GIS và các hệ thông tin khác. GIS lƣu thông tin về thế giới nhƣ 1 tập các lớp theo chủ đề đƣợc liên kết với nhau bởi địa lý. Cách này tuy đơn giản nhƣng rất linh hoạt và rất mạnh đƣợc chứngminh là vô giá trong việc giải quyết các vấn đề của thế giới thực từ việc theo vết lƣu chuyển xe cộ, lƣu chi tiết của ứng dụng quy hoạch, đến việc mô hình sự tuần hoàncủa khí quyển. Cách tiếp cận những lớp (layer) cho phép chúng ta tổ chức thế giớiphức tạp thành dạng đơn giản hơn, giúp chúng ta dễ dàng hiểu m i quan hệ giữa cácthành phần tự nhiên.
Các kiểu dữ liệu: Kiểu dữ liệu cơ bản trong GIS phản ảnh dữ liệu truyền th ng xuất hiện trên bản đồ. GIS sử dụng 2 dạng cơ bản của dữ liệu. Dữ liệu không gian: mô tả vị trí tƣơng đ i và tuyệt đ i của 1 đặc tính địa lý. Dữ liệu phi không gian (thuộc tính): mô tả các thông tin về đặc tính của các hình ảnh bản đồ.
Chúng đƣợc liên kết với các hình ảnh không gian thông qua các chỉ s xác định chung, thông thƣờng gọi là mã địa lý (GeoCode) đƣợc lƣu trữ trong cả hai bản ghi không gian và phi không gian. S liệu thuộc tính phi không gian bao gồm các định tính và s liệu hình ảnh, điểm, đƣờng, vùng hoặc mạng lƣới lƣu trữ trong các cơ sở dữ liệu. Hệ th ng thông tin địa lý có thể xử lý các thông tin thuộc tính riêng rẽ và tạo ra các bản đồ trên cơ sở các giá trị thuộc tính. 5 Phần lớn các phần mềm thông tin địa lý cũng có thể hiển thị các thông tin thuộc tính nhƣ là các ghi chú trên bản đồ hoặc là các tham s điều khiển cho việc lựa chọn hiển thị các ký hiệu bản đồ.
M i quan hệ giữa dữ liệu phi không gian và không gian: Bản đồ không chỉ thể hiện các lớp các đ i tƣợng hình học mà mỗi đ i tƣợng này còn đƣợc gắn với một tập các thuộc tính dữ liệu th ng kê khác. Ví dụ: vị trí tọa độ của rừng là dữ liệu không gian, còn những tính chất nhƣ những loài động vật, chiều cao… là những dữ liệu thuộc tính. Mỗi đ i tƣợng hình học có một mã nhận diện dùng để liên kết với một bản ghi trong cơ sở dữ liệu quan hệ. Các dữ liệu địa lý đƣợc tổ chức nhờ mô hình quan hệ địa lý và Topo.
Lớp các vùng (layer), đƣờng (line), điểm (point) liên kết với các thuộc tính tƣơng ứng. Những mô hình liên kết đó thể hiện cách quản lý vị trí, quan hệ không gian của các đặc trƣng điểm, đƣờng và vùng.