Tổng quan nghiên cứu

Khu vực Bắc Tây Nguyên và Tây Nghệ An đóng vai trò chiến lược về kinh tế, sinh thái và an ninh quốc phòng, song thường xuyên đối mặt với các đợt hạn hán khốc liệt. Điển hình trong đợt El Niño năm 2015, diện tích khô hạn nghiêm trọng tại Tây Nguyên đã chiếm tới 21% vào tháng 3 và đỉnh điểm mở rộng lên tới 46% diện tích tự nhiên toàn vùng. Khu vực Bắc Tây Nguyên với diện tích 2,47 triệu ha (chiếm 8,1% diện tích cả nước) và xã Nậm Cắn thuộc miền Tây Nghệ An chịu áp lực nặng nề từ mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau cùng hiện tượng gió phơn Tây Nam khô nóng.

Vấn đề đặt ra là phương pháp quan trắc độ ẩm đất truyền thống tại mặt đất đòi hỏi chi phí vận hành lớn, thời gian lấy mẫu kéo dài và chỉ phản ánh tính chất cục bộ, khó áp dụng trên quy mô liên tỉnh. Trong khi đó, việc sử dụng ảnh vệ tinh quang học độ phân giải cao cho phép thu nhận dữ liệu đồng bộ và liên tục trên diện rộng.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là làm rõ bản chất mối quan hệ giữa phổ phản xạ của các nhóm đất chính với dữ liệu đa phổ Landsat 8; xây dựng mô hình định lượng tính toán độ ẩm đất tầng mặt (0 - 30 cm); đồng thời giám sát biến động độ ẩm đất tại Bắc Tây Nguyên trong năm 2015 và kiểm chứng thử nghiệm tại khu vực Tây Nghệ An giai đoạn 2015 - 2018.

Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp bản đồ độ ẩm đất có độ phân giải không gian 30x30 m, giúp phát hiện sớm nguy cơ suy thoái tài nguyên trên 604.402 ha đất lâm nghiệp và hỗ trợ công tác dự báo hạn hán nông nghiệp kịp thời.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Cơ sở vật lý của nghiên cứu dựa trên lý thuyết hấp thụ bức xạ điện từ của nước trong đất ở dải sóng quang học từ 0,4 đến 2,5 µm. Khi hàm lượng nước trong đất tăng lên, hệ số phản xạ phổ của đất giảm mạnh, đặc biệt thể hiện rõ nét tại các bước sóng hấp thụ đặc trưng của phân tử nước ở vùng cận hồng ngoại (NIR, bước sóng 0,85 - 0,88 µm) và hồng ngoại sóng ngắn (SWIR 1 bước sóng 1,57 - 1,65 µm; SWIR 2 bước sóng 2,11 - 2,29 µm).

Nghiên cứu tích hợp các mô hình chỉ số viễn thám chuyên sâu gồm: Chỉ số khô hạn đa phổ chuẩn hóa (NMDI) khai thác độ nhạy của dải sóng 1,64 µm và 2,13 µm; Chỉ số độ ẩm đất chuẩn hóa (NSMI); và Chỉ số hạn hán viễn thám (NDDI). Bên cạnh đó, luận văn áp dụng hệ thống phân loại đất theo tiêu chuẩn FAO/UNESCO, tập trung vào nhóm đất đỏ vàng (Ferric Acrisols) và đất mùn vàng đỏ phát triển trên các nền đá mẹ granit, bazan, cát kết và phiến thạch sét.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn gồm 55 cảnh ảnh vệ tinh Landsat 8 OLI thu nhận từ Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ (USGS) giai đoạn 2015 - 2018 (33 cảnh ảnh khu vực Bắc Tây Nguyên và 22 cảnh ảnh khu vực Nghệ An). Dữ liệu thực địa gồm 23 mẫu đất đại diện (8 mẫu tại Bắc Tây Nguyên và 15 mẫu tại Nậm Cắn, Kỳ Sơn).

Phương pháp chọn mẫu là lấy mẫu phân tầng có chủ đích tại tầng mặt (0 - 30 cm) trên các khu vực trơ bề mặt đất đá hoặc thực vật thưa thớt, mỗi mẫu có khối lượng 0,5 kg đựng trong túi PE tiêu chuẩn. Đặc biệt, 7 mẫu đất thực địa tại Nậm Cắn được thu thập đồng bộ trong khung thời gian trước và sau 1 giờ khi vệ tinh Landsat 8 quét qua.

Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm được tiến hành nghiêm ngặt:

  • Xác định độ ẩm đất theo Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 4196:2012 bằng phương pháp sấy khô ở 105°C trong 8 - 12 giờ, chia mỗi mẫu đất thành 10 mẫu nhỏ (20 g) gia công theo dải độ ẩm từ 0% đến trạng thái bão hòa (44,7% - 56,7%).
  • Đo phổ phản xạ bằng máy đo phổ hiện trường ASD FieldSpec 3 (dải sóng 350 - 2500 nm, độ phân giải phổ 3 - 10 nm) tại Đại học Kyoto, Nhật Bản.
  • Xử lý ảnh số trên phần mềm ENVI 5.3 sử dụng thuật toán trừ đối tượng tối (DOS) để khử nhiễu khí quyển, so sánh đối chứng trực tiếp với ảnh Landsat Surface Reflectance Level 2 (L8SR) của NASA.
  • Phân tích thống kê hồi quy tuyến tính Pearson và hàm phi tuyến trên phần mềm IBM SPSS Statistics 20 với độ tin cậy 95%. Lý do lựa chọn hồi quy thống kê là nhằm lượng hóa chính xác mối tương quan thực nghiệm giữa phổ phản xạ đo quang học và các kênh phổ vệ tinh.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Mối tương quan giữa độ ẩm đất và phổ phản xạ: Kết quả đo quang phổ cho thấy khi độ ẩm đất tăng từ 0% lên mức bão hòa (đạt 50,5% ở mẫu á cát BTN 01 và 56,7% ở mẫu sét BTN 08), cường độ phản xạ phổ trên toàn dải bước sóng giảm từ 35 - 50% xuống còn dưới 10 - 15%. Kênh phổ hồng ngoại sóng ngắn SWIR 2 (Kênh 7 của Landsat 8) và tỷ số Kênh 5 trên Kênh 7 thể hiện mối tương quan tuyến tính mạnh nhất với độ ẩm đất.

Biến động độ ẩm đất Bắc Tây Nguyên năm 2015: Độ ẩm đất phân hóa rõ rệt theo mùa. Trong các tháng mùa khô (tháng 1 đến tháng 4), độ ẩm đất trung bình toàn vùng duy trì ở mức thấp, dưới 15 - 20%. Tháng 3 năm 2015 ghi nhận giá trị độ ẩm đất thấp nhất năm, diện tích đất có độ ẩm dưới 10% bao phủ phần lớn các thung lũng An Khê, Ayun Pa và Cheo Reo. Sang mùa mưa (tháng 5 đến tháng 10), độ ẩm đất tăng vọt lên mức 35 - 45% trên hơn 70% diện tích tự nhiên.

Độ chính xác của thuật toán xử lý ảnh: Giá trị phản xạ bề mặt chiết xuất từ ảnh Landsat 8 Level 1 qua hiệu chỉnh DOS có sự tương thích cao với dữ liệu ảnh Landsat 8 Level 2 của USGS, với sai số tuyệt đối về độ ẩm đất đo được tại thực địa Nậm Cắn dao động dưới 3,5%.

Thảo luận kết quả

Sự suy giảm mạnh của phổ phản xạ ở kênh SWIR 2 được giải thích bởi năng lượng hấp thụ mạnh của liên kết O-H trong phân tử nước tại các bước sóng 1,4 µm, 1,9 µm và 2,2 µm. Đất chứa hàm lượng sét cao (như mẫu phong hóa từ đá bazan và đá phiến sét) có khả năng giữ nước bão hòa cao hơn (trên 54%) so với đất cát pha ven sông (khoảng 44 - 50%), dẫn đến đường cong phổ phản xạ có độ dốc khác nhau.

So sánh với các nghiên cứu của Musick và Pelltier cùng các công bố sử dụng chỉ số hạn NDDI tại Tây Nguyên, kết quả tính toán độ ẩm đất từ ảnh Landsat 8 thể hiện sự tương đồng không gian lên tới 85% tại các vùng trọng điểm khô hạn.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả qua hệ thống biểu đồ tán xạ hồi quy giữa tỷ số kênh phổ Kênh 5 / Kênh 7 với phần trăm độ ẩm thực tế, kết hợp bảng ma trận phân cấp độ ẩm theo 5 mức (rất khô <10%, khô 10 - 20%, ẩm trung bình 20 - 30%, ẩm cao 30 - 40%, bão hòa >40%) và bản đồ chuyên đề biến động không gian nhiều thời kỳ.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Xây dựng bản đồ phân vùng cảnh báo sớm hạn hán tự động: Ứng dụng mô hình tỷ số kênh Landsat 8 để tự động trích xuất bản đồ độ ẩm đất tầng mặt chu kỳ 16 ngày/lần với độ phân giải 30 m. Chủ thể thực hiện là Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật phối hợp cùng Sở Tài nguyên và Môi trường Kon Tum và Gia Lai, mục tiêu hoàn thiện hệ thống giám sát trong giai đoạn 2024 - 2025.

  2. Điều chỉnh quy hoạch tưới tiêu cho cây công nghiệp dài ngày: Ứng dụng dữ liệu độ ẩm đất viễn thám để tối ưu hóa lượng nước tưới cho 102.640 ha cao su và 79.731 ha cà phê tại Gia Lai, hướng tới mục tiêu cắt giảm 15 - 20% lượng nước tiêu thụ lãng phí trong mùa khô hạn, triển khai từ năm 2024 đến năm 2026.

  3. Thiết lập mạng lưới trạm quan trắc phổ phản xạ mặt đất cố định: Đầu tư lắp đặt các cảm biến đo độ ẩm đất tự động tại các khu vực nhạy cảm khô hạn như thung lũng Sa Thầy và huyện Kỳ Sơn nhằm kiểm chuẩn liên tục dữ liệu viễn thám với sai số ước tính dưới 5%, giao các Viện nghiên cứu và Trường đại học chuyên ngành chủ trì trong giai đoạn 2025 - 2027.

  4. Lồng ghép chỉ số độ ẩm đất vào kế hoạch quản lý đất rừng: Tích hợp lớp dữ liệu biến động độ ẩm vào cơ sở dữ liệu quản lý 604.402 ha đất lâm nghiệp Bắc Tây Nguyên và 180.649 ha đất lâm nghiệp Kỳ Sơn nhằm phòng ngừa cháy rừng vào các tháng cao điểm từ tháng 2 đến tháng 4 hàng năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cán bộ kỹ thuật và chuyên viên viễn thám tại Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Áp dụng trực tiếp quy trình xử lý ảnh Landsat 8 (từ Level 1 qua hiệu chỉnh DOS sang Level 2) để lập bản đồ khô hạn cấp tỉnh mà không phụ thuộc vào các trạm quan trắc mặt đất đắt đỏ.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Địa chất môi trường, Địa lý tài nguyên và GIS: Sử dụng làm tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp kết hợp đo phổ ASD FieldSpec trong phòng thí nghiệm với giải đoán ảnh vệ tinh đa phổ.
  • Kỹ sư nông nghiệp và nhà quản trị các nông trường, doanh nghiệp cao su, cà phê: Vận dụng số liệu phân bố độ ẩm đất để thiết kế hệ thống tưới tiết kiệm và đánh giá khả năng giữ nước của các loại đất bazan, đất phù sa cổ.
  • Cơ quan phòng chống thiên tai và biến đổi khí hậu: Sử dụng các ngưỡng độ ẩm đất thực nghiệm để xây dựng kịch bản ứng phó hạn hán trong các chu kỳ El Niño cực đoan.

Câu hỏi thường gặp

  1. Dữ liệu ảnh Landsat 8 có ưu thế gì vượt trội so với các thế hệ vệ tinh trước trong việc tính độ ẩm đất? Landsat 8 được bổ sung hai kênh phổ mới và phân tách băng phổ hồng ngoại thành hai kênh độc lập (SWIR 1 và SWIR 2), cung cấp độ sâu bit 12-bit vượt trội hơn so với 8-bit của Landsat 7. Nhờ đó, độ nhạy bức xạ tăng lên rõ rệt, giúp nhận diện sự biến đổi nhỏ của hàm lượng nước tầng mặt đất với độ phân giải 30 m.

  2. Thuật toán trừ đối tượng tối DOS có đáp ứng được độ chính xác khoa học khi xử lý ảnh viễn thám? Thuật toán DOS triệt tiêu hiệu quả tán xạ khí quyển trên ảnh Landsat 8 Level 1. Kết quả kiểm chứng thực tế tại 15 điểm đo ở Nậm Cắn cho thấy giá trị phản xạ phổ sau khi hiệu chỉnh DOS có độ tương đồng trên 90% so với dữ liệu chuẩn Landsat Surface Reflectance Level 2 do NASA xử lý.

  3. Kênh phổ nào của Landsat 8 phản ánh biến động độ ẩm đất nhạy nhất? Kênh 7 (SWIR 2, bước sóng 2,11 - 2,29 µm) và tỷ số Kênh 5 / Kênh 7 là các thông số nhạy nhất. Khi độ ẩm đất tăng từ 0% lên trên 50%, độ phản xạ tại Kênh 7 giảm mạnh nhất do hấp thụ mạnh của phân tử nước, tạo ra hệ số tương quan tuyến tính cao với giá trị r bình phương đạt trên 0,80.

  4. Phương pháp viễn thám quang học trong luận văn có áp dụng được cho vùng rừng rậm không? Viễn thám quang học đạt độ chính xác cao nhất ở độ sâu 0 - 5 cm trên các vùng đất trống, đất trơ sỏi đá hoặc thực vật thưa thớt (dưới 30% độ che phủ). Đối với khu vực rừng rậm tán kín, nghiên cứu khuyến nghị cần tích hợp thêm dữ liệu viễn thám siêu cao tần (SAR) hoặc các chỉ số nhiệt thực vật gián tiếp.

  5. Độ ẩm đất tính toán từ ảnh vệ tinh phản ánh đợt hạn hán năm 2015 tại Bắc Tây Nguyên như thế nào? Mô hình đã định lượng hóa chính xác sự sụt giảm độ ẩm đất xuống dưới 15% trên diện tích hơn 500.000 ha trong tháng 3 năm 2015. Kết quả này hoàn toàn trùng khớp với báo cáo hạn hán nông nghiệp nghiêm trọng tại các huyện Đắk Hà, Sa Thầy, Chư Păh và Ayun Pa trong năm El Niño.

Kết luận

  • Luận văn đã xác lập thành công cơ sở khoa học và định lượng mối tương quan nghịch chặt chẽ giữa phổ phản xạ dải SWIR 2 trên ảnh Landsat 8 với độ ẩm đất tầng mặt qua 8 nhóm đất đại diện.
  • Quy trình tích hợp đo phổ thực nghiệm ASD FieldSpec 3 với thuật toán xử lý ảnh DOS cung cấp công cụ tính toán độ ẩm đất có độ chính xác cao, sai số thực địa dưới 3,5%.
  • Bản đồ biến động độ ẩm đất năm 2015 đã tái hiện rõ nét diễn biến hạn hán lịch sử tại Bắc Tây Nguyên, ghi nhận mức suy giảm độ ẩm cực tiểu vào tháng 3 trên diện rộng.
  • Thử nghiệm kiểm chứng tại khu vực Tây Nghệ An khẳng định tính khả thi và khả năng mở rộng mô hình viễn thám quang học cho các vùng địa hình đồi núi phức tạp.
  • Để tăng cường năng lực dự báo hạn hán giai đoạn 2025 - 2030, các địa phương cần đẩy mạnh số hóa dữ liệu viễn thám và tích hợp công nghệ AI vào giám sát tài nguyên đất định kỳ.