3-082 BỘ TU PHÁP. _ TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI HỘI THẢO KHOA HỌC CAP TRƯỜNG TRUNG TÂM THÔNG TIN THU VIEN TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HA NỘI PHÒNGĐỌc__ 592— HÀ NỘI, NGÀY 21 THÁNG 5 NĂM 2020 MỤC LỤC Trang TS. Bùi Hải Thiêm Vai trò của công nghệ thông tin trong nghiên cứu và công bố ở môi trường quốc tế TS. Ngọ Văn Nhân Ứng dụng công nghệ thông tin trong điều 10 ThS.
Nguyễn Thanh Hương. tra xã hội học (thu thập thông tin và xử lý thông tin) phục vụ hoạt động nghiên cứu luật học ThS. Lê Thị Hạnh Thực trạng xây dựng, sử dụng và chia sẻ 24 nguồn tài nguyên thông tin số tại Trung tâm Thông tin - Thư viện, Trường Đại học Luật Hà Nội PGS. Nguyễn Bá Bình Hội thảo khoa học bằng hình thức trực 53 ThS.
Trần Thu Yến tuyến: Thực tế tổ chức và những bài học kinh nghiệm - TS. Hoàng Ly Anh Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản 47 lý nghiên cứu khoa học: Góc nhìn từ đơn _vị quản lý khoa học của Trường Dai học Luật Hà Nội PGS. Tô Trung Thành Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản 57 lý nghiên cứu khoa học: Kinh nghiệm từ Trường Đại học Kinh tế quốc dân - TS. Mai Văn Thắng Ứng dụng công nghệ thông tin trong nghiên 62 cứu và quản lý nghiên cứu khoa học pháp lý ở Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội ThS.
Phạm Văn Hạnh Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản 75 lý nghiên cứu khoa học: Góc nhìn từ đơn vị quản lý công nghệ thông tin tại Trường Đại học Luật Hà Nội TS. Trần Vũ Hải Xây dựng diễn đàn luật học trực tuyến: Cơ 6S. hội để trao đối, phát triển các ý tưởng học thuật tại Trường Đại học Luật Hà Nội VAI TRÒ CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG NGHIÊN CỨU VÀ CÔNG BO Ở MOI TRƯỜNG QUOC TE "TS. Bui Hai Thiêm * Công nghệ thông tin là sự tích hợp đồng thời các tiến bộ về công nghệ và tổ chức thông tin, dem đến nhiều ảnh hưởng tích cực cho sự phát triển của khoa học nói chung và trong hoạt động nghiên cứu khoa học và công bố kết quả nghiên cứu nói riêng.
Cùng với sự phát triển của Internet, công nghệ thông tin là mở ra một kho kiến thức vô cùng đa dạng và phong phú cho hoạt động nghiên cứu và xuất bản quốc tế đơn giản, thuận tiện hơn rất nhiều đồng thời nâng cao chất lượng hoạt động này. Cơ sở chính trị và pháp lý cho việc ứng dụng công nghệ thông fin trong hoạt động nghiên cứu và xuất bản quốc tế ở Việt Nam - Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 01 tháng 7 năm 2014 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về đây mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 36-NQ/TW). Theo Nghị quyết số 36-NQ/TW, hệ thống cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương cần phải đổi mới, nâng cao nhận thức và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin; Xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật về ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin. Chính phủ chủ trương các Bộ, ngành, địa phương cần thực hiện 8 nhiệm vu trọng tâm nhằm đạt được _ các chỉ tiêu đề ra trong Nghị quyết số 36-NQ/TW gồm: 1.
Đỗi mới, nâng cao nhận thức và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin; 2. Xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật về ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin; | 3. Xây dựng hệ thống hạ tầng thông tin quốc gia đồng bộ, hiện đại; Ứng dụng công nghệ thông tin rộng rãi, thiết thực, có hiệu quả cao; | 4. Phát triển công nghiệp công nghệ thông tin, kinh tế tri thức; Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin đạt chuẩn quốc tế, đây mạnh nghiên cứu, ứng dụng, tiếp thu, làm chủ và sáng tạo công nghệ mới; 5.
Đây mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quốc phòng, an ninh; bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, nâng cao năng lực quản lý các mạng viễn thông, truyền hình, internet; Tăng cường hợp tác quốc tế. * Trưởng Phòng Quản lý khoa học, Viện Nghiên cứu lập pháp - Cho đến nay, trước yêu cầu của thực tiễn, Luật Công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 đã được sửa đồi, bố sung bang Luật Quy hoạch số 21/2017/QH14 ngày 24 tháng 11 năm 2017 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2019 (Văn bản hợp nhất 10/VBHN-VPQH ngày 12 tháng 12 năm 2017 do Văn phòng Quốc hội ban hành). Bên cạnh đó, Quốc hội cũng đã ban hành Luật An toàn thông tin mạng (Luật số 86/2015/QH13) và Luật An ninh mạng (Luật số 24/2018/QH14) nhằm tăng cường bảo vệ an toàn thông tin trước sự phát triển của Cách mạng công nghiệp 4.0 mà trong đó công nghệ thông tin là nền tảng của sự phat triển. - Tiếp theo các luật của Quốc hội, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 36a/NQ- CP ngày 14 tháng 10 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về Chính phủ điện tử, trong đó, Chính phủ đã nhận định, đánh giá tình hình ứng dụng, sử dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước trong những năm qua, nhiều văn bản pháp luật về lĩnh vực công nghệ thông tin được ban hành, tạo hành lang pháp lý cho sự phát triển của công nghệ thông tin.
Bên cạnh những thành tựu đạt được từ việc ứng dụng công nghệ thông tin, Chính phủ cũng đánh giá những mặt còn hạn chế trong quá trình ứng dụng công. nghệ thông tin vào hoạt động của cơ quan nhà nước. ‹ Chính phủ thé hiện quyết tâm trong việc thúc đây mạnh xây dựng Chính phủ điện tử qua việc phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2016- 2020 (Quyết định số 1819/QDTTg ngày 26/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ) và Nghị quyết về Chính phủ điện tử (Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ), số lượng dich vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 được các cơ quan cung cấp ngày càng tăng. Thông qua dịch vụ công trực tuyến, người dan và doanh nghiệp đã giảm được nhiều thời gian, thuận lợi hơn khi thực hiện các thủ tục hành chính với các cơ quan nhà nước.
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1819/QĐ-TTg ngày 26/10/2015 phê duyệt chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của _ cơ quan nhà nước giai đoạn 2016 - 2020. Theo số liệu thống kê của Chính phủ, hiện nay 100% các tỉnh, thành phố đã triển khai hệ thống thư điện tử chính thức của cơ quan. Với những cơ quan đã triển khai hệ thống thư điện tử chính thức phục vụ công _ việc, ty lệ cán bộ, công chức được cung cấp hộp thư điện tử dé sử dụng ngày càng gia tăng. Tỷ lệ văn bản trao đổi giữa các cơ quan, đơn vi dưới dạng điện tử ngày cảng tăng, cụ thể: Tỷ lệ văn bản trao đổi kết hợp điện tử kèm văn bản giấy trong hoạt động nội bộ của cơ quan nhà nước tại các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ khoảng 59%, tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khoảng 48%.
Hầu hết các văn bản, tài liệu của các Bộ, ngành, địa phương trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; văn bản, tài liệu trình Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố đều được thực hiện qua _ đường điện tử, kết hợp gửi văn bản giấy. Song song với việc tăng cường trao đổi văn 2 bản dưới dạng điện tử, việc sử dụng chữ ký 36 trong văn ban điện tử đã được các Bộ, ngành, địa phương quan tâm, thúc đây triển khai, cung cấp cho các cơ quan, đơn vị thuộc, trực thuộc. Tại một SỐ CƠ quan, đơn vị đã quán triệt chỉ đạo, điều hành qua môi trường điện tử, hạn chế sử dụng văn bản giấy, nâng cao hiệu lực quản lý, năng suất lao động và giảm chi phí hành chính. Các cơ sở giáo dục và nghiên cứu công lập là một trong những nơi di đầu trong việc triển khai và ứng dụng CNTT trong hoạt động nghiên cứu, giảng dạy và xuất bản.
Vai trò và ý nghĩa của công nghệ thông tin trong nghiên cứu ở môi trường quốc tế Ngày nay, các thư viện điện tử, các cơ sở đữ liệu số hóa lớn như ProQuest, JSTOR, Cambridge, Elsevier,. cung cấp các kho tri thức vi dai để người nghiên cứu tiếp cận thông tin đa chiều, rút ngắn khoảng cách, thu hẹp không gian, tiết kiệm tối ưu về thời gian, giúp người nghiên cứu tông hợp, phát triển nhanh hơn về kiến thức, nhận thức và tư duy. Khâu tìm đọc tài liệu để phân tích tổng quan tình hình nghiên cứu về van dé quan tâm được công nghệ thông tin giải quyết tiết kiệm rất nhiều thời gian, tăng tính hệ thống trong tổng hợp và xác định chuẩn xác các tranh luận khoa học liên quan và lựa chọn đề tài cần quan tâm nghiên cứu. Quá trình nghiên cứu và xuất bản có thé chia làm các giai đoạn cơ bản sau đây: - Giai đoạn lựa chon đề tài nghiên cứu; | - Giai đoạn xác định câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết và phương pháp nghiên cứu; - Giai đoạn xây dựng đề Cương và lập kế hoạch nghiên cứu; - - Giai đoạn thu thập dir liệu và xử lý dữ hiệu; - Giai đoạn viết báo cáo kết quả nghiên cứu; - - - Giai đoạn lựa chọn tạp chí để đăng tài kết quả nghiên cứu, trao đổi với tạp chí, người bình duyệt và xét duyệt bản thảo.
Đối với hoạt động nghiên cứu, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình này đã mang lại nhiều lợi ích thiết thực. Các hoạt động trên trong quá trình nghiên cứu và xuất bản thể hiện qua những phương diện sau đây: 2. Cổng thông tin Cổng thông tin là mô hình cung cấp nhiều loại dịch vụ Internet trên cùng một trang chủ. Các địa chỉ cổng giao tiếp cho phép khách hàng cơ hội dé tìm gần như moi thứ ở cùng một nơi.
Phần lớn các website sử dung mô hình cổng (hay hội thị) ngoài nhiệm vụ chính còn cung cấp một số dịch vụ miễn phí như công cụ tìm kiếm, tin tức trong và ngoài nước, công cụ tìm kiếm, thư điện tử hay phòng thoại (chat room) và các diễn đàn.