Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TINTRONG THỰC HIỆN THỦ TỤC HÀNH CHÍNH BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. Ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ tục hành chính 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm thủ tục hành chính Quản lý nhà nước cũng giống như bất kỳ một hoạt động có mục đích nào đều phải thực hiện bằng một loạt các hoạt động nối tiếp nhau theo một trình tự nhất định, nói cách khác nó diễn ra theo một thủ tục nhất định.
Theo đó, tương ứng với ba lĩnh vực hoạt động của nhà nước là thủ tục lập pháp, thủ tục hành pháp và thủ tục tư pháp. Thủ tục lập pháp là thủ tục làm Hiến pháp và làm luật do Quốc hội tiến hành. Thủ tục tư pháp là thủ tục giải quyết tranh chấp dân sự, định tội, được thực hiện bởi các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử…của các cơ quan tư pháp. Còn TTHC là thủ tục thực hiện thẩm quyền trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước của các cơ quan hành chính nhà nước.
Cần lưu ý rằng, chỉ các hoạt động quản lý HCNN được quy phạm TTHC điều chỉnh mới là thủ tục hành chính, còn tất cả các hoạt động tổ chức tác nghiệp cụ thể nào đó trong hoạt động quản lý HCNN không được các quy phạm TTHC điều chỉnh thì không phải là thủ tục hành chính. Theo các văn kiện của Đảng và các văn bản quy phạm pháp luật thì TTHC được hiểu là tổng thể các hành vi pháp lý cần thiết phải thực hiện theo cách thức, trình tự do pháp luật quy định nhằm tổ chức nhiệm vụ, quyền hạn hay quyền, nghĩa vụ của các chủ thể trong quản lý hành chính nhà nước. Đó là một loại quy phạm pháp luật quy định trình tự về thời gian, không gian khi thực hiện một thẩm quyền nhất định của bộ máy nhà nước, là cách thức giải 7 Luan van quyết công việc của các cơ quan nhà nước trong mối quan hệ với các cơ quan, tổ chức và cá nhân công dân. Thủ tục hành chính gồm những nội dung cơ bản sau: - Số lượng các hoạt động cụ thể để thực hiện những hoạt động quản lý nhất định; - Trình tự của các hoạt động cụ thể, mối liên hệ giữa các hoạt động đó; - Nội dung, mục đích của các hoạt động cụ thể; - Cách thức tiến hành, thời gian của hoạt động.
Các yếu tố cấu thành của TTHC[15]: - Tên thủ tục; - Hồ sơ của thủ tục; - Trình tự thực hiện; - Cách thức thực hiện; - Thời hạn giải quyết; - Đối tượng thực hiện; - Cơ quan có thẩm quyền giải quyết; - Kết quả của thủ tục; - Yêu cầu, điều kiện (nếu có); - Mẫu đơn, tờ khai (nếu có); - Phí, lệ phí (nếu có). Vị trí của TTHC: TTHC là một bộ phận của thể chế hành chính, là một loại quy phạm pháp luật mang tính thủ tục. TTHC được xem như cầu nối để chuyển tải các quy định cụ thể về chính sách của nhà nước vào cuộc sống, đảm bảo cho người dân, tổ chức tiếp cận và thực hiện tốt các chính sách, nhất là thực hiện các quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của công dân, tổ chức. Các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp hay ở các văn bản pháp luật khác có được thực hiện hay không, thực hiện như thế nào, về cơ bản, đều phải thông qua TTHC do các cơ quan hành chính nhà nước, các cấp chính quyền quy định.
8 Luan van Vai trò của TTHC: Vai trò TTHC thể hiện ở chỗ nó cụ thể hóa cách triển khai pháp luật để đưa pháp luật vào đời sống.Quy định TTHC chuẩn mực là cơ sở để đảm bảo chấp hành nghiêm kỷ luật, kỷ cương hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong quản lý HCNN. Quản lý hành chính luôn luôn được thực hiện trên cơ sở phối hợp 3 yếu tố: Tổ chức, nhân sự và thủ tục điều hành. Tổ chức có hợp lý, nhân viên có được sử dụng đúng khả năng và tiêu chuẩn, thủ tục điều hành có đơn giản thì quản lý mới hiệu quả. Muốn tổ chức hợp lý phải có CCVC đủ khả năng và đúng tiêu chuẩn cũng như thủ tục điều hành rõ ràng, đơn giản.
Ngược lại, thủ tục rườm rà sẽ dẫn đến phình to tổ chức, thêm nhiều tầng nấc, CCVC có thêm cơ hội dựa vào uy quyền của nhà nước để hạch sách gây khó khăn cho nhân dân, làm giảm uy tín của chính quyền. Khái niệm công nghệ thông tin CNTT đã ngày càng đóng vai trò quan trọng, là một nhân tố thúc đẩy đối với thành công trong công cuộc đổi mới của Việt Nam. Việt Nam coi CNTT là một trong những lĩnh vực ưu tiên để thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước. CNTT là động lực quan trọng phát triển kinh tế tri thức, xã hội thông tin, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong quá trình hội nhập quốc tế; góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Ngày nay, với tốc độ phát triển công nghệ như vũ bão việc khái niệm về CNTT có lẽ không còn xa lạ với mỗi người CNTT (tiếng Anh: Information Technology, viết tắt là IT) được hình thành từ Khoa học máy tính (Computer Science). Đây là một khái niệm khá rộng, nó bao hàm bên trong nhiều khái niệm khác nhau. Một số khái niệm CNTT phổ biến hiện nay như: - Theo UNESCO: CNTT bao gồm việc sử dụng các ứng dụng máy tính, công nghệ viễn thông và tin học trong việc truy cập và cung cấp thông tin 9 Luan van riêng và chung. Nó cho phép mọi người giao tiếp và trao đổi thông tin giới hạn trong không gian số, làm việc tại văn phòng ảo và thiết lập một xã hội tri thức.
- Theo Chỉ thị 58-CT/TW của Bộ Chính trị: CNTT là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến thông tin và các quá trình xứ 1ý thông tin. Theo quan niệm này thì CNTT là hệ thống các phương pháp khoa học, công nghệ, phương tiện, công cụ, bao gồm chủ yếu là các máy tính, mạng truyền thông và hệ thống các kho dữ liệu nhằm tổ chức, lưu trữ, truyền dẫn và khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, văn hoá. của con người. - Theo Luật CNTT số 67/2006/QH1: CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội.
CNTT phục vụ trực tiếp cho việc cải tiến quản lý nhà nước, nâng cao hiệu quả của các hoạt động sản xuất, kinh doanh và các hoạt động kinh tế xã hội khác, từ đó góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. CNTT được phát triển trên nền tảng phát triển của các công nghệ Điện tử - Tin học - Viễn thông và tự động hoá. Nhìn chung, các quan điểm còn lại cũng đều đồng ý rằng CNTT là ngành nghiên cứu, sản xuất phần mềm và phần cứng máy tính, đồng thời cũng là ngành khoa học và công nghệ về thông tin và xử lý thông tin, sử dụng cụng cụ, phương tiện chủ yếu là máy tính điện tử. Trong giới hạn nghiên cứu của đề tài thì CNTT được hiểu là công nghệ hiện đại dựa trên hệ thống máy tính và viễn thông để khai thác, sử dụng thông tin một cách có hiệu quả nhất.
Từ khi CNTT ra đời đã có những chuyển dịch đáng kể về công nghệ. Những chuyển dịch này làm cho việc xử lý thông tin tự động hiệu quả hơn, việc sử dụng các thiết bị tin học dễ dàng hơn, năng lực xử lý thông tin mạnh 10 Luan van hơn và tin học, CNTT được ứng dụng rộng rãi hơn vào các lĩnh của đời sống xã hội. Văn kiện Đại hội XII, lần đầu tiên Đảng ta khẳng định: “Khoa học và công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu” nghĩa là mọi chủ trương, chính sách phát triển đất nước, phát triển kinh tế - xã hội cũng như bảo vệ Tổ quốc đều phải dựa vào khoa học, công nghệ và thực hiện bằng khoa học, công nghệ; khoa học, công nghệ phải đứng hàng thứ nhất và đi trước một bước trong mọi chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước. Vị trí, vai trò của công nghệ thông tin Năm 2000, sự ra đời của Chỉ thị 58, trong đó khẳng định rõ tầm quan trọng của CNTT với công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, đã tạo ra luồng sinh khí mới, là kim chỉ nam cho CNTT Việt Nam phát triển mạnh mẽ.
Tiếp đó, ngày 01/7/2014, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 36- NQ/TW về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế. Việc nâng tầm từ Chỉ thị lên Nghị quyết đã thể hiện sự quan tâm của Bộ Chính trị và sự lãnh đạo của Đảng với công tác ứng dụng, phát triển CNTT; khẳng định vai trò, tầm quan trọng của CNTT trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới. Trong Nghị quyết 36, Bộ Chính trị xác định rõ những mục tiêu ngành CNTT Việt Nam cần đạt được thời gian tới: “CNTT phải được ứng dụng rộng rãi và trở thành một ngành kinh tế có tác động lan tỏa trong phát triển kinh tế- xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, góp phần nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, chất lượng cuộc sống, chỉ số phát triển con người Việt Nam và nâng cao khả năng phòng thủ quốc gia trong chiến tranh mạng. Đến năm 2030, đưa năng lực nghiên cứu, ứng dụng, phát triển, sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ CNTT đạt trình độ tiên tiến thế giới; Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về CNTT và bằng CNTT”.
CNTT giữ một vai trò rất quan trọng tại các quốc gia trên thế giới, đặc biệt tại Việt Nam, công nghệ thông tin được xem là nền tảng vững chắc phục 11 Luan van vụ cho tiến trình phát triển đất nước bền vững.