Chương 1. Thiết kế phương tiện dạy học bao gồm: Khái niệm – phân loại phương tiện dạy học, Yêu cầu đối với phương tiện dạy học, Nguyên tắc sử dụng phương tiện dạy học. Về đối tượng khảo sát: Đề tài khảo sát 112 GV giảng dạy tại các đơn vị của trường và 237 SV hệ SPKT tại trường ĐH SPKT Vĩnh Long. Về địa điểm: Đề tài được nghiên cứu tại trường ĐH SPKT Vĩnh Long, số 73 Nguyễn Huệ, phường 2, Thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.
Về thời gian: Đề tài thực hiện khảo sát và tổ chức TN sư phạm từ tháng 11/2020 đến tháng 7/2021. Phương pháp nghiên cứu 7. Phương pháp nghiên cứu lý luận Phân tích, tổng hợp, hệ thống, khái quát hóa các tài liệu (văn bản quy phạm pháp luật, giáo trình, sách, tạp chí…) có liên quan đến Multimedia và CNMM, môn 4 học TKDH 2 nhằm thiết lập cơ sở lý luận về ứng dụng CNMM trong dạy học môn TKDH 2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 7.
Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi được sử dụng với mục đích tìm hiểu thực trạng dạy học với CNMM của GV và thực trạng học tập với CNMM trong môn TKDH 2 tại trường ĐH SPKT Vĩnh Long. Bên cạnh đó, phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi cũng được sử dụng để tìm hiểu về tính tích cực nhận thức, kiến thức, năng lực của SV trước và sau khi áp dụng giải pháp ứng dụng CNMM. Phiếu trưng cầu ý kiến được thực hiện trên 273 SV hệ SPKT và 112 GV giảng dạy các môn tại trường. Phương pháp quan sát Phương pháp này nhằm quan sát các hoạt động tổ chức TN của GV trên lớp để đánh giá kết quả của giải pháp.
Trên cơ sở đó, đề tài có thể đưa ra kết luận về tính khả thi của giải pháp đã đề xuất. Phương pháp phỏng vấn Để làm rõ hơn các thông tin thu thập được từ bảng hỏi và quá trình quan sát, làm rõ và sâu hơn đề tài đã sử dụng phương pháp phỏng vấn. Đối tượng phỏng vấn: GV và SV hệ SPKT. Phương pháp pháp nghiên cứu sản phẩm Để làm rõ hơn các thông tin thu thập từ bảng hỏi và quá trình quan sát, để làm rõ và sâu hơn đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu sản phẩm của sinh viên.
Trên cơ sở đó, khẳng định những giải thuyết mà người nghiên cứu đã nêu. Đối tượng nghiên cứu: sản phẩm PTHDH của SV lớp ĐC và TN. Phương pháp thực nghiệm sư phạm Phương pháp TN sư phạm được sử dụng để kiểm tra tính đúng đắn của giả thuyết khoa học “Nếu GV ứng dụng CNMM trong dạy học môn TKDH 2 tại trường ĐH SPKT Vĩnh Long thì tính tích cực nhận thức của SV sẽ nâng cao. Phương pháp xử lý số liệu 5 Xử lý số liệu định lượng: Sử dụng phần mềm Microsoft Excel 365 để mã hóa biến số và phần mềm thống kê toán học IBM SPSS 26.0 để phân tích, xử lý các số liệu từ bảng hỏi trong quá trình tìm hiểu thực trạng cũng như TN dạy học môn TKDH 2.
Xử lý số liệu định tính: Phân tích, tổng hợp, so sánh các kết quả từ phỏng vấn, quan sát,… để minh chứng và làm rõ các nhận định. Cấu trúc luận văn Ngoài phần mở đầu, Kết luận và Phụ lục, luận văn gồm có 4 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận ứng dụng Công nghệ Multimedia trong dạy học môn Thiết kế dạy học 2 Chương 2: Thực trạng ứng dụng Công nghệ Multimedia trong dạy học môn Thiết kế dạy học 2 tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long. Chương 3: Thiết kế Multimedia cho dạy học môn Thiết kế dạy học 2 Chương 4: Thực nghiệm ứng dụng Công nghệ Mutimedia vào dạy học môn Thiết kế dạy học 2 tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long. 6 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ MULTIMEDIA TRONG DẠY HỌC MÔN THIẾT KẾ DẠY HỌC 2 1.
Tổng quan lịch sử nghiên cứu về Công nghệ Multimedia 1. Sự phát triển của Multimedia Việc ứng dụng nhiều phương tiện kết hợp trong dạy học đã có từ rất lâu, trong dạy học truyền thống người thầy khi lên lớp thường dùng tranh ảnh minh hoạ, các mô hình hay vật thật kết hợp với thao tác trình diễn và thuyết trình. Hình thức dạy học này vẫn mang lại những hiệu quả giáo dục không hề thua kém so với các hình thức Multimedia hiện đại ngày nay. Việc sử dụng công nghệ cho các mục đích giáo dục không còn là một điều mới mẻ.
Trên thực tế nó bắt đầu từ những năm 1900 của thế kỷ trước khi các trường học bắt đầu đưa các viện bảo tàng thu nhỏ vào giới thiệu cho học sinh. Đây là thời điểm khởi đầu của phong trào giáo dục trực quan kéo dài đến những năm 1930 khi các công nghệ thu phát bằng radio và phim ảnh phát triển mạnh. Nhu cầu đào tạo phục vụ cho thế chiến thứ II kích thích hàng loạt các phong trào dạy học trực quan với sự hỗ trợ của âm thanh và hình ảnh. Dạy học bằng vô tuyến truyền hình bắt đầu từ những năm 1950 nhưng tạo ra ít ảnh hưởng do việc đầu tư và bảo trì các hệ thống này rất phức tạp và tốn kém.
Nếu xét đến việc dạy học kết hợp với những phương tiện truyền thông hiện đại, từ những năm 1960, các trường ĐH mở của Anh đã giới thiệu loại hình đào tạo từ xa kết hợp với các tài liệu in truyền thống, băng cassette, đĩa hình và các chương trình truyền hình qua vệ tinh…Sự xuất hiện của máy tính vào những năm 1950 đã đặt nền tảng cho cho công nghệ dạy học với sự trợ giúp của máy tính (CAI- computer assited instruction) trong suốt hai thập niên 1960-1970. Tuy nhiên mãi đến năm 1980 các hệ thống máy tính mới bắt đầu có những ảnh hưởng quan trọng đối với giáo dục. (Reiser, 2001) 7 Các ứng dụng trên máy tính lúc đầu chỉ là những mô phỏng đơn giản, có rất ít hình ảnh minh hoạ và chưa có sự phối hợp của các nhà giáo dục nên không tác động sâu sắc đến quá trình học.Munro, 2000) Từ năm 1990 công nghệ máy tính phát triển nhanh chóng đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất, phân phối và lưu trữ các sản phẩm Multimedia. Trong suốt thập niên 1990 hàng loạt các phần mềm dạy học Multimedia được sản xuất và sử dụng trong các cơ sở đào tạo.
Sau sự xuất hiện và phổ biến của công nghệ www, sự kết hợp giữa công nghệ truyền thông và công nghệ thông tin (ICTs- information & communication technologes) đã mở ra hàng loạt các khả năng sử dụng công nghệ multimedia để làm phong phú môi trường học tập. Ngày nay, các cơ sở đào tạo đang đầu tư sức người và của trong lĩnh vực ứng dụng công nghệ multimedia trong giáo dục. Việc sử dụng các công nghệ multimedia trong các trường học được xem là hành trang cần thiết để bước vào thế kỷ 21. (Selwyn & Gordard, 2003) Từ khi xuất hiện đến nay, các hình thức Multimedia cho giáo dục thay đổi theo sự phát triển ICTs qua các giai đoạn sử dụng công nghệ: băng cassette, tivi, truyền hình qua vệ tinh, băng video, đĩa CD, DVD, máy vi tính, mạng internet, smartphone…người ta đã nghiên cứu ứng dụng các loại hình Multimedia theo từng điều kiện cụ thể, đối tượng cụ thể và mục đích cụ thể nhằm mang lại hiệu quả cao nhất, từ đó xuất hiện các công nghệ Multimedia cho giáo dục, Multimedia cho giải trí, quảng cáo… Hiện nay mạng máy tính, kết nối không dây và các công nghệ truyền thông trên nền máy tính, smartphone chính là phương thức truyền thông Multimedia hiệu quả nhất, vì vậy khi nói về Multimedia người ta hay có sự liên hệ đến máy tính, smartphone và mạng internet.
Trên thực tế các công nghệ Multimedia được phát triển dựa trên các tiến bộ mới nhất của công nghệ thông tin và công nghệ truyền thông, đồng thời việc ứng dụng công nghệ Multimedia trong dạy học được khai thác chủ yếu ở khả năng tương tác với NH qua các kịch bản sư phạm đã được lập ra từ trước. Các chương trình Multimedia sử dụng khoảng 2 trong số các loại thông tin sau: văn bản, đồ hoạ, hình ảnh, hình ảnh động, âm thanh và video. Những chương trình tương tác thuộc loại không tuyến tính (non-linear) thay đổi nội dung hoặc trình 8 tự trình bày nội dung tuỳ thuộc vào các cơ sở dữ liệu do người sử dụng nhập vào. Thiết bị Multimedia tương tác đầu tiên là máy tính và khi người ta nói về các chương trình Multimedia tương tác ngày nay, người ta thường nói đến những chương trình được thiết kế trên cơ sở máy tính.
(Ambron, 1988) Ngoài ra, khi được dùng để hỗ trợ cho việc học hoặc đào tạo từ xa, người ta thường giả định rằng những chương trình này được chuyển tải qua mạng Internet. Siêu phương tiện (hypermedia) là một thuật ngữ gần đúng để chỉ nội dung Multimedia được tạo nên từ những đơn vị thông tin có liên quan với nhau mà người sử dụng có thể xem và khảo sát (Karen Smith Catlin, 1990). Ví dụ tốt nhất về Multimedia và hypermedia là mạng thông tin toàn cầu (World Wide Web -WWW). Những chương trình Multimedia trước đây không mang tính tích hợp như ngày nay bởi vì các máy tính lúc đó chưa đủ mạnh.
Nội dung Multimedia được lưu lại thành chương trình truyền hình tương tự (analog television) và được trình bày thông qua những thiết bị ngoại vi đặc biệt do máy tính điều khiển. SV sẽ tương tác với văn bản trên máy tính làm cho thiết bị hiển thị những hình ảnh tĩnh hay những đoạn chuyển động trên những màn hình ti vi riêng rẽ. Ngày nay, có bốn xu hướng chính góp phần làm cho chiếc máy tính trở thành một thiết bị Multimedia: Sự biến đổi, sự hợp nhất, khả năng xử lý và giá cả và tính phổ biến. Xu hướng thứ nhất là sự biến đổi, nghĩa là biến đổi thông tin tương tự (analog) thành thông tin dạng số (digital) và thay thế các thiết bị analog trước đây bằng các thiết bị kỹ thuật số.
Đĩa CD (compact dics), máy chụp hình kỹ thuật số, máy quay phim kỹ thuật số và điện thoại thông minh là những ví dụ thông dụng nhất. Việc chuyển đổi sang thông tin kỹ thuật số đã tạo động lực cho xu hướng thứ hai đó là sự hội tụ hay còn gọi là sự hợp nhất của các công nghệ riêng biệt trước đây. Giờ đây người ta có thể xem truyền hình kỹ thuật số hay gọi điện thoại từ máy tính bởi vì CNTT, điện thoại và truyền hình đã được hợp nhất. Sự hội tụ không chỉ áp dụng cho phần cứng mà cả phần mềm.