Luận văn ứng dụng công nghệ gps xây dựng lưới khống chế đo vẽ phục vụ công tác thành lập bản đồ địa chính xã văn lãng huyện yên bình tỉnh yên bái

Luận văn ứng dụng công nghệ GPS xây dựng lưới khống chế đo vẽ, phục vụ thành lập bản đồ địa chính xã Văn Lãng, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Địa chính

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2017

67
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1. Phần 1: MỞ ĐẦU

1.1. Ý nghĩa của đề tài

1.1.1. Ý nghĩa trong học tập

1.1.2. Ý nghĩa trong thực tế

2. Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở khoa học của đề tài

2.2. Lịch sử ra đời

2.3. Cấu tạo của hệ thống định vị toàn cầu

2.4. Hệ tọa độ WGS-84 và các phƣơng pháp đo GPS

2.4.1. Hệ toạ độ WGS-84

2.4.2. Các phƣơng pháp đo GPS

2.4.2.1. Đo GPS tuyệt đối

3. Phần 3: ĐỐI TƢỢNG NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Địa điểm nghiên cứu

3.2. Nội dung nghiên cứu

3.3. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Văn Lãng - huyện Yên Bình – tỉnh Yên Bái

3.4. Tình hình quản lý và sử dụng đất

3.5. Xây dựng lƣới khống chế địa chính đo vẽ bằng công nghệ GPS

3.6. Đánh giá chung và đề xuất giải pháp

3.7. Phƣơng pháp nghiên cứu

3.7.1. Phƣơng pháp thu thập số liệu thứ cấp

3.7.2. Phƣơng pháp đo đạc thực địa

3.7.3. Phƣơng pháp xử lý số liệu

4. Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội

4.1.1. Điều kiện tự nhiên

4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội

4.2. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội

4.3. Xây dựng lƣới khống chế địa chính đo vẽ bằng công nghệ GPS

4.3.1. Công tác chuẩn bị

4.3.2. Thành quả tính toán bình sai lƣới khống chế đo vẽ xã Văn Lãng - huyện Yên Bình - tỉnh Yên Bái

4.3.3. Kiểm tra, nghiệm thu kết quả

4.4. Thuận lợi và khó khăn khi xây dựng lƣới GPS tại xã Văn Lãng

4.5. Giải pháp khắc phục

5. Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về công nghệ GPS

Công nghệ GPS (công nghệ GPS) đã trở thành một công cụ quan trọng trong việc xây dựng lưới khống chế đo vẽ. Hệ thống định vị toàn cầu này cung cấp khả năng xác định vị trí với độ chính xác cao, giúp cho việc đo đạc và lập bản đồ trở nên hiệu quả hơn. GPS cho phép đo đạc trong mọi điều kiện thời tiết và thời điểm, điều này rất cần thiết cho công tác đo vẽ bản đồ địa chính. Việc ứng dụng GPS trong xây dựng lưới khống chế không chỉ giúp tiết kiệm thời gian mà còn giảm thiểu chi phí so với các phương pháp truyền thống. Theo nghiên cứu, việc áp dụng GPS trong đo đạc đã mang lại những kết quả khả quan, đặc biệt trong việc thành lập bản đồ địa chính tại xã Văn Lãng, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái.

1.1. Lịch sử phát triển của GPS

Hệ thống GPS được phát triển từ những năm 1970 và chính thức được đưa vào sử dụng cho mục đích dân sự từ năm 1980. Sự ra đời của GPS đã mở ra một kỷ nguyên mới cho ngành trắc địa, cho phép xác định vị trí một cách nhanh chóng và chính xác. Hệ thống này bao gồm 24 vệ tinh hoạt động trên quỹ đạo, cung cấp thông tin định vị cho người dùng trên toàn cầu. Việc ứng dụng GPS trong đo đạc đã giúp cải thiện đáng kể độ chính xác và hiệu quả trong công tác lập bản đồ địa chính, đặc biệt là tại các khu vực nông thôn như xã Văn Lãng.

II. Xây dựng lưới khống chế địa chính

Việc xây dựng lưới khống chế địa chính tại xã Văn Lãng được thực hiện thông qua việc áp dụng công nghệ GPS. Lưới khống chế này không chỉ phục vụ cho công tác đo vẽ bản đồ địa chính mà còn hỗ trợ cho việc quản lý đất đai hiệu quả hơn. Các phương pháp đo GPS được sử dụng bao gồm đo GPS tuyệt đối và đo GPS vi phân, giúp xác định tọa độ chính xác của các điểm trên bản đồ. Kết quả đo đạc cho thấy lưới khống chế đạt yêu cầu kỹ thuật, từ đó tạo cơ sở cho việc lập bản đồ địa chính chính xác và tin cậy.

2.1. Phương pháp đo GPS

Phương pháp đo GPS tuyệt đối cho phép xác định tọa độ của điểm quan sát trong hệ tọa độ WGS-84. Bằng cách sử dụng tín hiệu từ ít nhất 4 vệ tinh, tọa độ của điểm đo được xác định với độ chính xác cao. Ngoài ra, phương pháp đo GPS vi phân cũng được áp dụng để nâng cao độ chính xác, đặc biệt trong các khu vực có yêu cầu cao về độ chính xác. Việc sử dụng các máy thu GPS hiện đại giúp tối ưu hóa quy trình đo đạc, từ đó nâng cao hiệu quả công tác lập bản đồ địa chính.

III. Đánh giá và ứng dụng thực tiễn

Kết quả từ việc xây dựng lưới khống chế địa chính tại xã Văn Lãng cho thấy sự cần thiết và hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ GPS trong công tác đo đạc. Lưới khống chế không chỉ giúp cải thiện độ chính xác của bản đồ địa chính mà còn hỗ trợ cho công tác quản lý đất đai tại địa phương. Việc áp dụng GPS trong đo đạc đã chứng minh được giá trị thực tiễn, giúp tiết kiệm thời gian và chi phí, đồng thời nâng cao chất lượng công tác lập bản đồ. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh hiện nay, khi mà nhu cầu về thông tin địa chính ngày càng cao.

3.1. Tác động đến quản lý đất đai

Việc xây dựng lưới khống chế địa chính bằng công nghệ GPS đã tạo ra một nền tảng vững chắc cho công tác quản lý đất đai tại xã Văn Lãng. Thông qua việc có được bản đồ địa chính chính xác, các cơ quan chức năng có thể thực hiện các chính sách quản lý đất đai hiệu quả hơn. Điều này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của người dân mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của địa phương. Sự ứng dụng công nghệ GPS trong quản lý đất đai là một bước tiến quan trọng, mở ra nhiều cơ hội cho việc phát triển kinh tế - xã hội tại khu vực.

02/03/2025
Luận văn ứng dụng công nghệ gps xây dựng lưới khống chế đo vẽ phục vụ công tác thành lập bản đồ địa chính xã văn lãng huyện yên bình tỉnh yên bái

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam cùng với sự phát triển của nền công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc và hội nhập quốc tế. Song song với quá trình này là sự cải tiến thay đổi về mặt công nghệ, các tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến hiện đại, các dự án nghiên cứu ứng dụng của công nghệ mới đƣợc đẩy mạnh chính vì vậy. Sự ra đời của hệ thống định vị toàn cầu GPS (Global Positioning System) đã mang lại một diện mạo mới cho các lĩnh vực ứng dụng công nghệ GPS nói chung và ngành trắc địa nói riêng. Từ những năm 80, khi mà hệ thống định vị toàn cầu GPS đƣợc phía Mỹ cho phép khai thác trong lĩnh vực dân sự thì các ứng dụng của nó trong trắc địa có những ƣu điểm hơn hẳn với công nghệ đo đạc truyền thống.

Đó là khả năng đo nhanh, độ chính xác cao và đo trong mọi điều kiện thời tiết, bất kỳ thời điểm trên phạm vi toàn cầu. Sau Mỹ, Nga cũng xây dựng hệ thống định vị toàn cầu Glonass (Global Navigation satellite system) với nguyên lý hoạt động tƣơng tự hệ thống GPS. GPS đƣợc đƣa vào nƣớc ta sử dụng từ năm 1990 và chủ yếu phục vụ xây dựng các mạng lƣới quốc gia và các lƣới cạnh dài phục vụ đo vẽ bản đồ, hoặc đo nối toạ độ từ đất liền đến các đảo xa. Cùng với sự phát triển của hệ thống GPS thì máy thu GPS là phần cứng quan trọng trong đoạn sử dụng.

Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các hãng sản xuất máy thu GPS cũng cho ra đời các máy thu thế hệ mới ngày càng gọn nhẹ, hoàn thiện hơn về tính năng sử dụng. với khả năng này máy sẽ cho kết quả đo nhanh, độ chính xác cao đối với cạnh đáy dài. Nó có thể phục vụ cho rất nhiều mục đích khác nhau, cho nhiều ngành nhƣ: trắc địa, thuỷ văn, xây dựng, quốc phòng c 2 Hiện nay ở nƣớc ta việc đo đạc theo các phƣơng pháp truyền thống chi phí rất tốn kém và rất khó thực hiện. Do đó công nghệ GPS đóng vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng lƣới khống chế cũng nhƣ các dạng lƣới khác phục vụ từ khảo sát thiết kế đến thi công các công trình.

Xuất phát từ yêu cầu thực tế và khả năng ứng dụng của các máy thu GPS nói trên, đƣợc sự đồng ý của khoa Quản lý Tài nguyên, trƣờng Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, em đã nghiên cứu đề tài tốt nghiệp “Ứng dụng công nghệ GPS xây dựng lưới không chế đo vẽ phục vụ công tác thành lập bản đồ địa chính xã Văn Lãng - huyện Yên Bình - tỉnh Yên Bái”. Mục tiêu Ứng dụng công nghệ GPS thành lập lƣới không chế trắc địa phục vụ công tác đo vẽ và thành lập bản đồ địa chính Thành lập đƣợc lƣới không chế trắc địa đạt yêu cầu kỹ thuật bằng công nghệ GPS trên địa bàn xã Văn Lãng - huyện Yên Bình - tỉnh Yên Bái. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập - Biết cách sử dụng máy đo GPS và các phần mềm bình sai 1.

Ý nghĩa trong thực tế - Thấy đƣợc vai trò quan trọng của công nghệ GPS trong công tác đo đạc nói chung và công tác thành lập lƣới khống chế trắc địa nói riêng - Với những tính nắng ƣu việt, kỹ thuật đo GPS là phƣơng pháp mới áp dụng không chỉ tốt trong ngành địa chính mà còn ứng dụng nhiều ngành nhƣ: Giao thông, Thủy lợi, Xây dựng, Nông nghiệp… c 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Lịch sử ra đời Hệ thống định vị toàn cầu là hệ thống dùng để định vị và đạo hàng, hệ thống này ra đời nhằm đáp ứng ý tƣởng sử dụng vệ tinh nhân tạo của trái đất vào mục đích định vị và dẫn đƣờng trên mặt đất, ít phụ thuộc vào thời tiết và thời điểm trong ngày. Nó đã đƣợc các nhà khoa học Liên xô và Mỹ đề cập đến từ những năm của thập niên 50 - 60, khi Liên Xô phóng thành công vệ tinh nhân tạo đầu tiên của trái đất (vệ tinh Sputnhic-1) vào năm 1957, từ đó các nhà khoa học quân sự của hai nƣớc và các nhà khoa học trên thế giới đã tiếp tục nghiên cứu và đã đạt đƣợc những thành công trong việc sử dụng các vệ tinh của mình.

Để xác định vị trí điểm trên mặt đất hoặc trên đại dƣơng phục vụ cho việc dẫn đƣờng tàu, thuyền, máy bay và các phƣơng tiện quân sự khác. Bƣớc đầu các hệ thống định vị vệ tinh khu vực đƣợc xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu định vị chính xác cao cho cả một vùng rộng lớn mà ít phụ thuộc vào các điều kiện không gian và thời gian. Ngƣời ta đã xây dựng các hệ thống định vị vệ tinh khu vực trong đó vệ tinh thƣờng đƣợc sử dụng là vệ tinh địa tĩnh. Một số hệ thống định vị vệ tinh đƣợc xây dựng thuộc loại này nhƣ: - Hệ thống STAR- FIX.

- Hệ thống EUTELTRACS và hệ thống OMNITRACS. - Hệ thống NAVSTAR Vào đầu những năm của thập niên 60 thì hệ thống định vị toàn cầu đƣợc ra đời nhƣ: - Hệ thống TRANSIT của Mỹ. - Hệ thống TSICADA của Liên xô. c 30 Vào khoảng giữa những năm 60 Bộ quốc phòng Mỹ khuyến khích xây dựng một hệ thống đạo hàng vệ tinh hoàn hảo hơn so với hệ thống TRANSIT.

ý tƣởng chính của đề án do Hải quân Mỹ đề xuất là sử dụng khoảng cách đo từ các điểm trên mặt đất đến vệ tinh trên cơ sở biết chính xác tốc độ và thời gian lan truyền tín hiệu vô tuyến, đề án có tên là TIMATION. Các công trình nghiên cứu tƣơng tự cũng đƣợc không quân Mỹ tiến hành trong khuôn khổ chƣơng trình mang mã số 621B. Song từ năm 1973 Bộ quốc phòng Mỹ quyết định đình chỉ cả hai chƣơng trình này để triển khai phối hợp nghiên cứu xây dựng hệ thống đạo hàng vô tuyến vệ tinh trên cơ sở các kết quả của chƣơng trình TRANSIT và hai chƣơng trình vừa nói tới. Hệ thống này có tên gọi đúng là NAVSTAR GPS (Navigation Satellite Providing Timing and Ranging Global Postioning System).

Nhiệm vụ chủ yếu của hệ thống là xác định toạ độ không gian và tốc độ chuyển động của điểm xét trên tàu vũ trụ, máy bay, tàu thuỷ và trên đất liền phục vụ cho Bộ quốc phòng Mỹ và các cơ quan dân sự. Khi đƣợc hoàn tất, hệ thống sẽ gồm có 21 vệ tinh hoạt động và 3 vệ tinh dự trữ, các vệ tinh quay trên 6 quỹ đạo hầu nhƣ tròn, ở độ cao cỡ 20000km với chu kỳ sấp xỉ 12 giờ. Với cách bố trí này thì trong suốt 24 giờ tại bất kỳ điểm nào trên trái đất cũng sẽ quan sát đƣợc ít nhất 4 vệ tinh. Các vệ tinh đầu tiên của hệ thống đƣợc phóng lên quỹ đạo vào tháng 2 năm 1978, toàn bộ hệ thống đƣợc đƣa vào hoạt động hoàn chỉnh từ tháng 5 năm 1994.

Song hành với hệ thống NAVSTAR GPS, một hệ thống định vị toàn cầu tƣơng tự mang tên GLONASS (Global Navigation Satellite System) do Liên Xô chế tạo cũng đã đƣợc đƣa và sử dụng năm 1982. Hệ thống cũng gồm 24 vệ tinh nhƣng quay trong 3 mặt phẳng quỹ đạo từ 18840km đến 19940km, trên mỗi quỹ đạo các vệ tinh có độ giãn cách là 45 0, chu kỳ quay cỡ 676 phút. Với đúng nghĩa là hệ thống định vị toàn cầu GPS, cả NAVSTAR và GLONASS cùng cho phép thực hiện định vị cho bất kỳ điểm xét nào, vào bất c 31 kỳ thời điểm nào trong ngày và với bất kỳ điều kiện thời tiết nào. Đã có những dự án phối hợp khai thác hệ thống này để nâng cao hiệu quả trên phạm vi toàn cầu.

* Đặc điểm và tính năng của hệ thống định vị toàn cầu GPS Khi mới ra đời hệ thống GPS chỉ có quân sự Mỹ đƣợc độc quyền khai thác, sử dụng vào mục đích quân sự. Từ năm 1980 chính phủ Mỹ cho phép chính thức hệ thống GPS đƣợc sử dụng cho mục đích dân sự, từ đó các nhà khoa học của nhiều nƣớc đã ra sức nghiên cứu phát triển công nghệ GPS để đạt đƣợc những thành quả cao nhất trong việc phát huy nguồn tiềm năng to lớn này. Hƣớng nghiên cứu chủ yếu đi vào các lĩnh vực: - Chế tạo máy thu tín hiệu. - Xây dựng phần mềm xử lý tín hiệu, đáp ứng cho nhiều mục đích.

- Thiết lập và phát triển công nghệ ứng dụng trong chuyên ngành. Công nghệ GPS có đặc điểm ƣu việt hơn hẳn các công nghệ truyền thống ở các mặt: - Xác định trực tiếp các thành phần toạ độ không gian với độ chính xác cao (cả toạ độ mặt bằng, độ cao). - Rất linh hoạt trong bố trí điểm đo, có thể đo trong hầu hết các thời điểm và thời tiết. - Khả năng tự động hoá rất cao, cả trong đo ngoại nghiệp và xử lý số liệu nội nghiệp.

Chính vì tính ƣu việt này mà công nghệ GPS đƣợc ứng dụng ở nhiều ngành với nhiều chức năng khác nhau, nhất là trong lĩnh vực trắc địa. Cấu tạo của hệ thống định vị toàn cầu Hệ thống định vị toàn cầu GPS bao gồm ba bộ phận cấu thành, đó là đoạn không gian (Space Segment), đoạn điều khiển (Control Segment) và c 32 đoạn sử dụng (User Segment). Chúng tôi xin trình bày cụ thể về từng bộ phận cấu thành của hệ thống nhƣ sau: Hình 2. Cấu trúc của hệ thống định vị toàn cầu a) Đoạn không gian (Space Segment) Đoạn này gồm 24 vệ tinh, trong đó có 3 vệ tinh dự trữ, quay trên 6 mặt phẳng quỹ đạo cách đều nhau và có góc nghiêng 55 0 so với mặt phẳng xích đạo của trái đất.

Quỹ đạo của vệ tinh hầu nhƣ tròn, vệ tinh bay ở độ cao xấp xỉ 20000km so với mặt đất, chu kỳ quay của vệ tinh là 718m (xấp xỉ 12 giờ). Do vậy sẽ bay qua đúng điểm cho trƣớc trên mặt đất mỗi ngày một lần, với cách phân bố nhƣ vậy thì tại bất kỳ thời điểm nào, ở bất kỳ vị trí nào trên trái đất cũng đều nhìn thấy 4 vệ tinh. Mỗi vệ tinh đƣợc trang bị máy phát tần số chuẩn nguyên tử chính xác cao cỡ 10-12. Máy phát này tạo ra các tín hiệu tần số cơ sở 10.23 MHz, từ đây tạo ra các sóng tải tần số L1= 1227.60 MHz, các sóng tải đƣợc điều biến bởi hai loại Code khác nhau: C/A - Code và P - Code.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Ứng Dụng Công Nghệ GPS Xây Dựng Lưới Khống Chế Đo Vẽ Bản Đồ Địa Chính Xã Văn Lãng, Yên Bình, Yên Bái" tập trung vào việc ứng dụng công nghệ GPS để xây dựng lưới khống chế phục vụ đo đạc và thành lập bản đồ địa chính tại xã Văn Lãng. Nghiên cứu này nhấn mạnh tính chính xác và hiệu quả của công nghệ GPS trong việc thu thập dữ liệu địa hình, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học cho việc quản lý đất đai và quy hoạch lãnh thổ. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các chuyên gia trong lĩnh vực trắc địa, bản đồ và quản lý đất đai.

Để mở rộng kiến thức về ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo Luận văn ứng dụng công nghệ tin học và máy RTK SQ GNSS thành lập bản đồ địa chính tờ số 40 tỉ lệ 1 2000 xã đức mạnh huyện đắk mil tỉnh đắk nông, nghiên cứu này cũng tập trung vào việc sử dụng công nghệ hiện đại để tăng độ chính xác trong đo đạc. Ngoài ra, Luận văn ứng dụng công nghệ máy toàn đạc điện tử và phần mềm MicroStation trong biên tập và thành lập tờ bản đồ địa chính số 19 tỷ lệ 1 2000 tại xã tân dương cung cấp thêm góc nhìn về việc kết hợp phần mềm chuyên dụng để tối ưu hóa quy trình. Cuối cùng, Luận văn ứng dụng công nghệ tin học và máy toàn đạc điện tử thành lập bản đồ địa chính phường phú diễn quận bắc từ liêm thành phố hà nội là một nghiên cứu khác về ứng dụng công nghệ trong quản lý đất đai tại khu vực đô thị.