Tổng quan luận án

Hệ quy chiếu và hệ tọa độ giữ vai trò nền tảng trong hoạt động bảo đảm quốc phòng - an ninh, phát triển kinh tế và nghiên cứu khoa học trái đất. Tại Việt Nam, Hệ quy chiếu và Hệ tọa độ quốc gia VN-2000 được ban hành theo Quyết định số 83/2000/QĐ-TTg ngày 12/7/2000 của Thủ tướng Chính phủ. Sau hơn hai thập kỷ vận hành, hệ thống này bộc lộ một số hạn chế kỹ thuật:

  • Tính chất "tĩnh" của hệ tọa độ không phản ánh sự biến đổi liên tục của vỏ Trái Đất do các hoạt động kiến tạo mảng, động đất và các hiện tượng địa chất (tốc độ dịch chuyển mảng khu vực ước tính khoảng 50 mm/năm).
  • Hệ thống không đáp ứng được yêu cầu quan trắc các dịch chuyển nhỏ phục vụ nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ cao.
  • Không hoàn toàn tương thích với cơ chế vận hành tọa độ động thời gian thực của các hệ thống vệ tinh định vị toàn cầu hiện đại (GPS, GLONASS, GALILEO).
  • Gây khó khăn cho công tác cập nhật không gian ba chiều (3D), quản lý hạ tầng số và hội nhập quốc tế do các mạng lưới trắc địa toàn cầu đều vận hành trên các khung quy chiếu động.
  • Dữ liệu VN-2000 chủ yếu được thiết kế trên đất liền, chưa bao quát đầy đủ khu vực biển đảo; độ chính xác mạng lưới không đồng đều do lịch sử ghép nối nhiều nguồn dữ liệu (điểm Nha Trang đạt sai số 1,055 m trong khi điểm Hải Ninh lên tới 4 m); mô hình Geoid VNGeo-96R xây dựng theo phương pháp phần dư còn chứa sai số hệ thống.

Khoảng trống nghiên cứu được xác định là sự thiếu vắng một cơ sở khoa học và giải pháp kỹ thuật hoàn chỉnh để thiết kế, bình sai và tính chuyển tọa độ động từ hệ VN-2000 sang các khung quy chiếu quốc tế (ITRF), phục vụ xây dựng Hệ quy chiếu - Hệ tọa độ Quân sự trên nền tảng mạng lưới trạm định vị vệ tinh liên tục (GNSS CORS).

Mục tiêu nghiên cứu của luận án:

  1. Đề xuất giải pháp thiết kế lưới trắc địa áp dụng công nghệ GNSS phục vụ tính toán kết nối Hệ tọa độ quốc gia VN-2000 với Hệ tọa độ quốc tế ITRF.
  2. Đưa ra giải pháp tính toán bình sai xử lý dữ liệu GNSS phục vụ xây dựng Hệ quy chiếu - Hệ tọa độ Quân sự ở Việt Nam; giải quyết bài toán xác định bộ tham số tính chuyển giữa Hệ tọa độ Việt Nam và Hệ tọa độ quốc tế ITRF.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Xây dựng Hệ quy chiếu - Hệ tọa độ Quân sự ở Việt Nam dựa trên hệ thống trạm thu tín hiệu vệ tinh liên tục GNSS CORS, phát triển từ việc nâng cấp hệ tọa độ VN-2000 và kết nối với khung tham chiếu quốc tế ITRF.
  • Phạm vi lý thuyết: Cơ sở lý thuyết và tiêu chí thiết kế vị trí trạm CORS tối ưu về độ tin cậy, độ chính xác và tính khả thi thi công; cơ sở khoa học của thuật toán bình sai lưới GNSS CORS kết hợp dữ liệu trắc địa mặt đất và bài toán chuyển đổi tọa độ động.
  • Phạm vi thực nghiệm: Mạng lưới trạm GNSS CORS phủ trùm không gian lãnh thổ và vùng biển đảo Việt Nam (trọng tâm là số liệu các trạm CORS do Cục Bản đồ - Bộ Tổng Tham mưu quản lý); tính toán thử nghiệm xác định bộ tham số tính chuyển 7 tham số, 14 tham số và mô hình Geoid cục bộ.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng hợp tình hình nghiên cứu hạ tầng trắc địa và hệ quy chiếu trên thế giới cũng như tại Việt Nam:

Nghiên cứu quốc tế:

  • Hoa Kỳ: Từ năm 1994, Cơ quan Khảo sát Trắc địa Quốc gia (NGS) thuộc NOAA chuyển đổi từ NGRS sang NSRS, triển khai mạng lưới trắc địa liên bang (FBN), mạng lưới cơ sở phối hợp (CBN) và hệ thống trạm CORS (Strange, 1994; Strange & Weston, 1995). Hệ thống tích hợp sự tham gia của USCG, USACE, FAA, NASA-JPL và USGS, hướng tới hoàn thành hiện đại hóa NSRS trên 56 tiểu bang và vùng lãnh thổ vào năm 2025.
  • Liên bang Nga: Năm 1999 triển khai mạng lưới trắc địa vệ tinh quốc gia NSGN gồm 3 cấp: FAGN, PGN và SGN-1, gắn với hệ tọa độ địa tâm PZ-90 đạt độ chính xác từ 1 cm đến 5 cm.
  • Canada: Ban hành hệ độ cao CGVD2013 dựa trên mô hình Geoid CGG2013 (độ chính xác ±3 cm, bao phủ trên 80% diện tích đất liền), xây dựng hệ thống CSRS gắn với ITRF96 tại kỷ nguyên 1997.0.
  • Trung Quốc: Hợp nhất các mạng lưới GPS hạng A/B (SBSM, 832 điểm), GPS hạng I/II (Quân đội, 553 điểm) và lưới quan trắc dịch chuyển mảng (1.222 điểm) thành GPS-2000 (hơn 2.500 điểm), sau đó bình sai chung với 49.000 điểm trắc địa truyền thống để công bố Hệ tọa độ CGCS-2000 vào tháng 7/2008 gắn với ITRF97. Năm 2009 triển khai mạng lưới CORS toàn quốc với khoảng cách trạm dưới 150 km.
  • Châu Âu: Vận hành Khung quy chiếu mặt đất ETRS-89 (ETRFyy) gắn với ITRFyy thông qua các trạm quan trắc liên tục của IERS và IGS, sai lệch vị trí duy trì ở mức ±0,01 m.
  • Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương: Ủy ban PCGIAP triển khai dự án mạng lưới trắc địa APRGP từ năm 1997 và dự án khung quy chiếu APREF từ năm 2009 nhằm liên kết dữ liệu trắc địa khu vực.
Quốc gia / Khu vực Hệ quy chiếu / Mạng lưới trắc địa tiêu biểu Khung tham chiếu quốc tế gắn kết Đặc điểm hạ tầng kỹ thuật
Hoa Kỳ NSRS (FBN, CBN, CORS) ITRF / WGS84 Tích hợp liên ngành (NOAA, USCG, USACE, FAA, NASA); phủ trùm 56 bang/lãnh thổ
Liên bang Nga NSGN (FAGN, PGN, SGN-1), PZ-90 PZ-90 / ITRF Kết hợp trắc địa vệ tinh GLONASS, đo cao thủy chuẩn và đo trọng lực
Canada CSRS, Hệ độ cao CGVD2013 ITRF96 (kỷ nguyên 1997.0) Dựa trên Geoid trọng lực CGG2013 độ chính xác ±3 cm
Trung Quốc GPS-2000, CGCS-2000 ITRF97 (kỷ nguyên 2000.0) Hợp nhất hơn 2.500 điểm GPS và 49.000 điểm thiên văn trắc địa; lưới CORS < 150 km
Châu Âu ETRS-89 (ETRFyy) ITRS / ITRFyy Duy trì qua mạng trạm GNSS thường trực; độ lệch so với ITRF khoảng ±0,01 m
Việt Nam (trước luận án) VN-2000 (Ellipsoid WGS84 định vị địa phương) Chưa liên kết động chặt chẽ ITRF 71 điểm cấp "0", ~14.000 điểm địa chính cơ sở; 65 trạm VNGEONET; 35 trạm CORS quân sự

Nghiên cứu trong nước:

  • Bùi Yên Tĩnh (2005) chỉ ra hạn chế của mạng lưới tĩnh VN-2000 và sự cần thiết phải mô hình hóa địa động lực.
  • Nguyễn Văn Đông (2011) nghiên cứu nâng cao độ chính xác tọa độ qua việc xử lý độ trễ tầng đối lưu trong các chu kỳ đo GPS khác nhau.
  • Bùi Thị Hồng Thắm (2014) hệ thống hóa cơ sở lý thuyết hiện đại hóa mạng lưới trắc địa bằng GNSS CORS và xu hướng chuyển dịch mảng theo thời gian.
  • Lương Thanh Thạch (2018) nghiên cứu mô hình quasigeoid quốc gia và phương pháp bình sai ghép nối mạng lưới trắc địa không gian.

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết: Các nghiên cứu trước chủ yếu dừng lại ở việc đánh giá tính tĩnh của VN-2000 hoặc bình sai cục bộ từng khu vực. Luận án tập trung giải quyết bài toán thiết kế mạng lưới trạm CORS chuyên dụng kết hợp quân sự - dân sự, xây dựng thuật toán bình sai hỗn hợp mặt bằng - độ cao - trọng lực cho vùng biển đảo, và thiết lập mô hình tính chuyển tọa độ động 14 tham số kết hợp kỹ thuật phân tích thành phần chính (PCA) để kiểm soát biến dạng theo thời gian.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên các nền tảng lý thuyết và công nghệ đo đạc không gian:

  • Hệ quy chiếu và khung quy chiếu: Khung quy chiếu thiên văn quốc tế (ICRS), Khung quy chiếu mặt đất quốc tế (ITRS/ITRF qua các kỷ nguyên ITRF93, ITRF96, ITRF97, ITRF2000, ITRF2020), Hệ trắc địa thế giới WGS84, và Hệ tọa độ quốc gia VN-2000.
  • Công nghệ định vị và trắc địa vệ tinh: Công nghệ GNSS liên tục (CORS), giao thoa đường cơ sở rất dài (VLBI), đo khoảng cách vệ tinh bằng laser (SLR/LLR), hệ thống định vị Doppler DORIS, và đo trọng lực độ chính xác cao.
  • Mô hình tính toán chuyển đổi: Mô hình Bursa-Wolf 7 tham số (3 tham số tịnh tiến, 3 tham số góc xoay, 1 tham số tỷ lệ co dãn) và mô hình mở rộng 14 tham số xét đến đạo hàm vận tốc biến thiên theo thời gian; phương pháp phân tích thành phần chính (PCA) để giảm chiều và phân tích tương quan các thành phần chuyển dịch; mô hình Geoid cục bộ ứng dụng phương pháp nội suy Kriging và nghịch đảo trọng số khoảng cách (IDW).
  • Công nghệ dự phòng và quy chiếu quân sự: Hệ thống dẫn đường tầm xa sóng dài ELORAN và Hệ thống lưới tọa độ quân sự chuẩn MGRS (Military Grid Reference System).

Phương pháp nghiên cứu thực hiện:

  • Phương pháp hồi cứu tài liệu: Thu thập, phân tích hệ thống văn bản quy chuẩn, tài liệu kỹ thuật của Cục Bản đồ, Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam, tổ chức IGS, IERS, PCGIAP.
  • Phương pháp mô hình hóa toán học: Xây dựng hệ phương trình bình sai điều kiện kèm ẩn số cho lưới trắc địa kết hợp; thiết lập phương trình chuyển đổi tọa độ động 3D.
  • Phương pháp phân tích thống kê đa biến: Ứng dụng kỹ thuật PCA để đánh giá cấu trúc sai số và mức độ tương quan giữa các tham số tịnh tiến, xoay trục và hệ số tỷ lệ.
  • Phương pháp chuyên gia: Tham vấn các nhà khoa học thuộc Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Cục Bản đồ (Bộ Tổng Tham mưu), Hội Trắc địa - Bản đồ - Viễn thám Việt Nam.
  • Phương pháp thực nghiệm: Xử lý số liệu đo thực tế từ 14 trạm GNSS CORS đại diện kết nối với các trạm IGS quốc tế; kiểm chứng trên mạng lưới trắc địa mặt đất và đo cao thủy chuẩn.

Nguồn dữ liệu sử dụng:

  • Dữ liệu quan trắc liên tục của 35 trạm GNSS CORS và 06 trạm DGPS thuộc Cục Bản đồ quản lý.
  • Dữ liệu 65 trạm định vị vệ tinh quốc gia thuộc hệ thống VNGEONET (gồm 24 trạm Geodetic CORS và 41 trạm NRTK CORS) do Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý.
  • Dữ liệu 71 điểm tọa độ cấp "0", 1.038 điểm GPS đo cao thủy chuẩn (GPS-TC) toàn quốc, và dữ liệu các trạm IGS khu vực lân cận (LHASA, SHAO, GUAM, TAIWAN).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu thiết kế và xử lý số liệu áp dụng công nghệ GNSS xây dựng Hệ quy chiếu - Hệ tọa độ

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hệ quy chiếu quốc tế và quốc gia. Tác giả phân tích cấu trúc toán học của các hệ ICRS, ITRS/ITRF và WGS84, làm rõ sự khác biệt giữa tọa độ tĩnh và tọa độ động.

Phần đánh giá hiện trạng mạng lưới trắc địa Việt Nam chỉ ra quá trình phát triển qua các giai đoạn từ 1959 đến nay:

  • Lưới thiên văn trắc địa hạng I, II miền Bắc (1959–1964);
  • Lưới tam giác hạng I, II miền Trung (1988–1992);
  • Lưới Doppler vệ tinh (1987–1989);
  • Lưới GPS cạnh ngắn và cạnh dài (1991–1993);
  • Lưới GPS cấp "0" gồm 71 điểm (1995) liên kết với 4 trạm IGS quốc tế;
  • Mạng lưới địa chính cơ sở hạng III hoàn thành năm 2004 với gần 14.000 điểm;
  • Mạng lưới 1.038 điểm GPS-TC phục vụ mô hình Geoid (trong đó có 36 điểm đo liên tục 24 giờ nối IGS).
[Mạng lưới IGS quốc tế (LHASA, SHAO, GUAM, TAIWAN)]
[Mạng lưới GPS cấp "0" (71 điểm) & Mạng trạm CORS]
[Hệ quy chiếu - Hệ tọa độ Quân sự (VNQS) trên nền VN-2000 nâng cấp]
[Tác chiến / Khí tài hiện đại]   [Bản đồ số & CSDL địa hình 3D]
(Spyder, Su-30MK2, Bastion-P)     (DTED1, DTED2, Raster, Vector)

Chương 1 luận chứng các tiêu chí xây dựng Hệ quy chiếu - Hệ tọa độ Quân sự: tính kế thừa, tính thống nhất, tính mở rộng không gian tác chiến, tính bảo mật, tính chính xác và tính động. Luận án phân tích yêu cầu bảo đảm cơ sở dữ liệu địa hình quân sự cho các tổ hợp vũ khí hiện đại:

  • Tổ hợp tên lửa phòng không Spyder: Yêu cầu dữ liệu số địa hình DTED2 (kích thước 200x200 km đến 600x600 km), bản đồ raster 1:500.000 độ phân giải 60 m cho xe radar MMR; mô hình DTED1 kích thước tối đa 300x300 km, bản đồ tỷ lệ 1:50.000 và bình đồ ảnh vệ tinh cho xe chỉ huy CCU và xe phóng MFU.
  • Hệ thống buồng tập lái máy bay Su-30MK2: Yêu cầu định dạng mô phỏng địa hình tương thích chuẩn quốc tế thay vì định dạng tệp thông thường.
  • Tổ hợp tên lửa bờ Bastion-Monolit: Đòi hỏi dữ liệu tọa độ mục tiêu và dẫn đường chính xác cao trên vùng biển mở rộng.

Về yêu cầu độ chính xác, xuất phát từ sai số trúng đích của vũ khí công nghệ cao (1–2 m) và mô hình phân bổ $n$ sai số thành phần ($n \ge 4$), sai số vị trí điểm lưới khống chế quân sự được luận chứng phải đạt giá trị nhỏ hơn $1/\sqrt{n}$ mét, tức phải đạt độ chính xác dưới 0,5 m ở quy mô toàn cục và đạt mức centimet tại các trạm cơ sở.

Chương 2: Giải pháp thiết kế lưới trắc địa áp dụng công nghệ GNSS phục vụ xây dựng Hệ quy chiếu - Hệ tọa độ

Chương 2 trình bày các giải pháp kỹ thuật thiết kế mạng lưới trắc địa không gian:

  • Đánh giá các kỹ thuật quan trắc hiện đại: Phân tích nguyên lý và vai trò kết hợp của GNSS, VLBI, SLR/LLR, DORIS và đo trọng lực trong việc xác định các tham số định hướng Trái Đất và tâm khối lượng.
  • Kinh nghiệm quốc tế: Nghiên cứu quy hoạch mạng lưới trắc địa tại Trung Quốc (CGCS-2000, trạm CORS khoảng cách <150 km) và Hàn Quốc để rút ra bài học cho Việt Nam.
  • Đánh giá hạ tầng thiết bị Việt Nam: Phân tích hệ thống trạm VNGEONET của Bộ Tài nguyên và Môi trường (24 trạm Geodetic CORS, khoảng cách 150–200 km; 41 trạm NRTK CORS, khoảng cách 50–80 km) và hệ thống 35 trạm CORS, 06 trạm DGPS của Cục Bản đồ.
  • Tiêu chí thiết kế tối ưu mạng lưới: Đề xuất nguyên tắc bố trí trạm CORS phủ trùm các khối kiến tạo chính tại Việt Nam, đặc biệt là tăng cường các trạm trên vùng hải đảo tiền tiêu và các đới đứt gãy hoạt động.
  • Tích hợp công nghệ định vị dự phòng và chuẩn quy chiếu tác chiến: Luận chứng giải pháp áp dụng hệ thống định vị mặt đất sóng dài ELORAN để bảo đảm khả năng dẫn đường khi tín hiệu GNSS bị chế áp điện tử hoặc gián đoạn; đề xuất cấu trúc phân mảnh và tích hợp hệ thống tham chiếu lưới tọa độ quân sự MGRS vào hệ thống chỉ huy tham mưu tác chiến.

Chương 3: Giải pháp tính toán bình sai xử lý số liệu GNSS phục vụ xây dựng Hệ quy chiếu - Hệ tọa độ Quân sự ở Việt Nam

Chương 3 xây dựng các giải pháp toán học xử lý dữ liệu trắc địa:

  • Phương pháp bình sai mạng lưới: Xây dựng thuật toán bình sai điều kiện kèm ẩn số cho mạng lưới kết hợp mặt bằng, độ cao và trị đo GNSS. Đề xuất quy trình giải bài toán chuyền độ cao thủy chuẩn ra các đảo xa bằng công nghệ GNSS kết hợp mô hình Geoid cục bộ và cân bằng thiên văn.
  • Quy trình đo và xử lý số liệu GNSS: Thiết lập các quy định kỹ thuật về thời gian quan trắc liên tục, góc ngưỡng vệ tinh, thu thập dữ liệu đa tần số phục vụ xử lý véc-tơ cạnh chính xác cao.
  • Mô hình chuyển đổi tọa độ động: Thiết lập công thức chuyển đổi 7 tham số theo mô hình Bursa-Wolf và mô hình chuyển đổi động 14 tham số liên kết giữa khung quy chiếu ITRF tại kỷ nguyên quan trắc $t$ và Hệ quy chiếu VN-2000 tại thời điểm gốc $t_0$:

$$\begin{bmatrix} X \ Y \ Z \end{bmatrix}{VN-2000} = \begin{bmatrix} \Delta X(t) \ \Delta Y(t) \ \Delta Z(t) \end{bmatrix} + (1 + m(t)) \begin{bmatrix} 1 & \omega_Z(t) & -\omega_Y(t) \ -\omega_Z(t) & 1 & \omega_X(t) \ \omega_Y(t) & -\omega_X(t) & 1 \end{bmatrix} \begin{bmatrix} X \ Y \ Z \end{bmatrix}{ITRF(t)}$$

Trong đó các tham số dịch chuyển $\Delta X(t), \Delta Y(t), \Delta Z(t)$, góc xoay $\omega_X(t), \omega_Y(t), \omega_Z(t)$ và tỷ lệ $m(t)$ đều là hàm tuyến tính theo thời gian $(t - t_0)$ gắn với các tốc độ biến thiên tương ứng $(\dot{\Delta X}, \dot{\Delta Y}, \dot{\Delta Z}, \dot{\omega}_X, \dot{\omega}_Y, \dot{\omega}_Z, \dot{m})$.

Chương 4: Thực nghiệm

Chương 4 kiểm chứng các giải pháp lý thuyết thông qua tính toán thực tế:

  • Bình sai kết nối trạm CORS với IGS: Xử lý dữ liệu quan trắc từ 14 trạm GNSS CORS trên lãnh thổ Việt Nam liên kết với mạng lưới trạm IGS khu vực, xác định tọa độ và vận tốc chuyển dịch điểm trạm trong hệ quy chiếu ITRF.
  • Tính toán bộ tham số chuyển đổi:
    • Tính toán 7 tham số chuyển đổi từ WGS84/ITRF sang VN-2000 trên các tập hợp trạm (14 trạm, 12 trạm, 7 trạm CORS) và so sánh độ lệch mặt phẳng theo khoảng cách ngoại vi.
    • Xác định 14 tham số tính chuyển tọa độ động phản ánh vận tốc dịch chuyển mảng kiến tạo.
    • Sử dụng phương pháp phân tích thành phần chính (PCA) phân tích ma trận tương quan giữa 14 tham số, làm rõ mối liên hệ giữa nhóm tham số dịch chuyển gốc tọa độ, nhóm tham số xoay trục và hệ số tỷ lệ biến dạng.
  • Nội suy mô hình Geoid cục bộ: Thử nghiệm xây dựng mô hình Geoid bổ sung dựa trên các điểm đo mặt đất có độ cao thủy chuẩn, so sánh đánh giá độ gợn sóng giữa 3 mô hình và thống kê độ lệch khi áp dụng phương pháp nội suy Kriging.
  • Triển khai ứng dụng quân sự: Đề xuất mô hình xây dựng hệ thống thông tin chỉ huy điều hành tác chiến hợp đồng quân binh chủng; xây dựng phương án bảo mật thông tin tọa độ thông qua giải pháp mã hóa dữ liệu số và cài đặt gia số tọa độ bảo mật theo chu kỳ trong tác chiến.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới của luận án

  1. Về mặt khoa học và phương pháp luận:

    • Xác lập cơ sở khoa học cho việc xây dựng Hệ quy chiếu - Hệ tọa độ Quân sự trên cơ sở kế thừa và cập nhật Hệ tọa độ quốc gia VN-2000, bổ sung các điểm trạm GNSS CORS tại các đới kiến tạo và vùng hải đảo.
    • Đề xuất giải pháp thiết kế tối ưu mạng lưới GNSS CORS phù hợp với đặc thù hình học lãnh thổ Việt Nam và liên kết với Khung quy chiếu mặt đất quốc tế ITRF.
    • Xây dựng thuật toán bình sai kết hợp lưới mặt bằng và dữ liệu GNSS có điểm trạm CORS; đề xuất giải pháp xác định độ cao thủy chuẩn ra biển đảo bằng phương pháp bình sai điều kiện kèm ẩn số.
    • Ứng dụng kỹ thuật phân tích thành phần chính (PCA) để kiểm soát, đánh giá mối quan hệ tương quan giữa các thành phần trong bộ tham số tính chuyển động (dịch chuyển, xoay trục, biến dạng tỷ lệ) theo thời gian.
  2. Về mặt thực tiễn và ứng dụng:

    • Xây dựng phần mềm tính toán thử nghiệm chuyển đổi tọa độ theo quan điểm "động" giữa hệ VN-2000 và ITRF, phục vụ quản lý và chuẩn hóa cơ sở dữ liệu không gian.
    • Đưa ra giải pháp bảo đảm dữ liệu địa hình số (DTED1, DTED2, raster, vector, mô hình 3D) phục vụ khai thác các tổ hợp khí tài quân sự (tên lửa Spyder, máy bay Su-30MK2, tên lửa Bastion).
    • Đề xuất quy trình bảo mật thông tin tọa độ tác chiến thông qua cơ chế mã hóa và gia số tọa độ định kỳ.

Đề xuất và giải pháp kỹ thuật

  • Tích hợp mạng lưới trạm định vị vệ tinh của Bộ Quốc phòng (35 trạm CORS, 6 trạm DGPS) với hệ thống VNGEONET của Bộ Tài nguyên và Môi trường (65 trạm) để hình thành khung tham chiếu GNSS quốc gia thống nhất.
  • Bố trí bổ sung các trạm định vị vệ tinh liên tục trên các đảo tiền tiêu nhằm kiểm soát không gian biển và phục vụ dẫn đường hàng hải.
  • Tích hợp giải pháp dẫn đường quán tính (INS) và hệ thống hỗ trợ mặt đất sóng dài ELORAN kết hợp lưới tọa độ quân sự MGRS trong tác chiến phòng thủ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Dữ liệu thực nghiệm tập trung trên 14 trạm CORS đại diện; mạng lưới trạm CORS tại các vùng biển đảo xa bờ và khu vực địa hình đặc biệt hiểm trở còn hạn chế về mật độ. Mức độ đồng bộ định dạng dữ liệu giữa các quân binh chủng còn gặp bất cập do lịch sử trang bị khí tài khác nhau.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng tính toán bình sai trên toàn bộ hệ thống trạm CORS quốc gia và tăng cường đo nối các trạm hải đảo xa bờ.
    • Ứng dụng các thuật toán học máy (Machine Learning) để mô hình hóa phi tuyến tính các tham số dịch chuyển vỏ Trái Đất cục bộ tại các đới đứt gãy hoạt động.
    • Hoàn thiện phần mềm tính chuyển tự động thời gian thực tích hợp trực tiếp vào các hệ thống chỉ huy - điều hành tác chiến số hóa.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn cho:

  • Cơ quan quản lý và đơn vị quốc phòng: Cục Bản đồ (Bộ Tổng Tham mưu), các viện nghiên cứu quân sự, các quân binh chủng (Hải quân, Phòng không - Không quân, Pháo binh) trong việc chuẩn hóa cơ sở dữ liệu địa hình số, xây dựng hệ thống dẫn đường và bảo mật tọa độ tác chiến.
  • Cơ quan quản lý đo đạc bản đồ dân sự: Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam trong việc hiện đại hóa mạng lưới trắc địa quốc gia, bảo trì hệ VN-2000 và nâng cấp lên hệ tọa độ không gian 3D.
  • Cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên ngành Kỹ thuật Trắc địa - Bản đồ, Địa tin học tham khảo phương pháp bình sai lưới GNSS CORS, thuật toán tính chuyển 14 tham số và kỹ thuật phân tích PCA trong trắc địa động lực.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao Hệ tọa độ quốc gia VN-2000 cần được cập nhật theo quan điểm tọa độ "động"?
Hệ tọa độ VN-2000 là hệ quy chiếu tĩnh, không phản ánh sự dịch chuyển của vỏ Trái Đất do biến động kiến tạo (khoảng 50 mm/năm tại khu vực). Điều này gây sai lệch tích lũy theo thời gian khi kết nối với các hệ thống vệ tinh GNSS hiện đại (GPS, GLONASS, GALILEO) vốn vận hành trên các khung quy chiếu động (ITRF). Cập nhật theo quan điểm "động" giúp duy trì độ chính xác không gian 3D và bảo đảm tính tương thích quốc tế.

2. Mạng lưới trắc địa cấp "0" của Việt Nam được xây dựng với quy mô như thế nào?
Mạng lưới GPS cấp "0" được xây dựng năm 1995 gồm 71 điểm (06 điểm xây mới và 65 điểm đo trùng với các mốc hạng I, II cũ). Lưới được đo nối trực tiếp với 04 trạm IGS quốc tế gồm LHASA (Tây Tạng), SHAO (Thượng Hải), GUAM và TAIWAN (Đài Loan), trong đó 3 trạm đầu làm điểm khống chế và trạm TAIWAN dùng để kiểm tra.

3. Yêu cầu độ chính xác của lưới khống chế phục vụ Hệ tọa độ Quân sự được xác định ra sao?
Dựa trên sai số trúng đích của vũ khí hiện đại (1–2 m) và mô hình phân bổ sai số tổng hợp với ít nhất 4 sai số thành phần ($n \ge 4$), sai số vị trí điểm lưới khống chế quân sự được tính toán theo công thức $1/\sqrt{n}$ mét, yêu cầu sai số vị trí điểm phải nhỏ hơn 0,5 m trên toàn mạng lưới và đạt cấp độ centimet đối với các trạm CORS cơ sở.

4. Vai trò của hệ thống ELORAN và lưới tọa độ MGRS trong nghiên cứu là gì?
ELORAN là hệ thống định vị mặt đất bước sóng dài được đề xuất làm phương án dự phòng khi tín hiệu vệ tinh GNSS bị gây nhiễu hoặc gián đoạn trong tác chiến điện tử. Hệ thống tham chiếu lưới tọa độ quân sự MGRS được nghiên cứu áp dụng nhằm chuẩn hóa việc chia mảnh, hiển thị và truyền tin tọa độ thống nhất giữa các lực lượng tham mưu tác chiến.

5. Ứng dụng của phương pháp phân tích thành phần chính (PCA) trong luận án là gì?
Phương pháp PCA được sử dụng để giảm chiều dữ liệu và phân tích ma trận tương quan giữa 14 tham số tính chuyển động (gồm 7 tham số vị trí/tỷ lệ và 7 tham số vận tốc biến thiên). Kỹ thuật này giúp phát hiện cấu trúc liên kết nội tại giữa các đại lượng dịch chuyển gốc, xoay trục và biến dạng, từ đó nâng cao tính ổn định khi tính toán chuyển đổi tọa độ theo thời gian.


Kết luận

Luận án của tác giả Lều Huy Nam đã giải quyết trọn vẹn bài toán khoa học về thiết kế và xử lý số liệu lưới trắc địa GNSS phục vụ xây dựng Hệ quy chiếu - Hệ tọa độ Quân sự tại Việt Nam. Công trình đã thiết lập cơ sở lý thuyết bình sai kết hợp lưới trắc địa mặt đất với mạng lưới trạm CORS, xác định bộ tham số tính chuyển động 14 tham số liên kết hệ VN-2000 với khung quy chiếu quốc tế ITRF, đồng thời ứng dụng kỹ thuật PCA để phân tích tương quan tham số. Kết quả nghiên cứu đáp ứng trực tiếp yêu cầu bảo đảm dữ liệu địa hình số cho các tổ hợp khí tài quân sự hiện đại, cung cấp luận cứ kỹ thuật phục vụ hiện đại hóa hạ tầng đo đạc bản đồ quốc gia.